Trong xã hội hiện đại, điện năng từ lâu đã trở thành mặt hàng thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống con người, từ việc vận hành các thiết bị điện, lưu trữ thông tin cũng như phát triển công nghiệp, tất cả đều cần nguồn nguyên liệu đầu vào thiết yếu nhất là điện, chính vì thế, ngành công nghiệp sản xuất và cung cấp điện luôn duy trì được mức tăng trưởng CAGR 3,5%/năm trong suốt 50 năm qua, trong đó, các quốc gia càng phát triển thường có mức tiêu thụ điện bình quân trên đầu người càng cao.
Với phương thức truyền thống, điện được sản xuất thông qua 5 nguồn chính:
1. Thủy điện: các nhà máy thủy điện được xây dựng trên các con sông để tận dụng thế năng của dòng nước nhằm làm quay máy phát điện, do dùng nguồn nặng lượng sạch của dòng nước nên đây là nguồn ít gây ô nhiễm, giá thành sản xuất rẻ nhất do không tốn chi phí nguyên liệu đầu vào song phụ thuộc nhiều vào địa hình Việt Nam cũng như tình hình thủy văn hàng năm.
Hiện tại gần như Việt Nam đã khai thác nguồn năng lượng này đến mức tối đa, các doanh nghiệp hiện tại đang niêm yết trên sàn tiêu biểu như VSH, SJD, SHP, TMP, CHP, SBA, TBC, DPG, HDG, …
2. Nhiệt điện: có nguồn đầu vào là than và khí, nhiệt điện có ưu điểm dễ dàng phát triển, đo đó phù hợp với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, tuy nhiên, nguồn nguyên liệu đầu vào biến động theo thế giới (than, khí) ảnh hưởng đến chi phí điện sản xuất, ngoài ra, than đốt ra cũng gây ảnh hưởng đến môi trường, các doanh nghiệp tiêu biểu đang niêm yết trên sàn ở mảng này như PPC, NT2, BTP, POW, …
3. Điện tái tạo: thường từ 2 nguồn điện gió và điện mặt trời. Đây là nguồn điện có tính ổn định thấp do phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, chính vì vậy thường được cân bằng chính cho phụ tải đỉnh. Với nguồn nhiệt phân bổ không đều, Việt Nam chủ yếu phát triển điện mặt trời ở các khu vực như Ninh Thuận – Bình Thuận và gần như đã ổn định nguồn điện này. Còn điện gió, với đường bờ biển dài 3.000km và nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
Việt Nam có triển vọng lớn về gió và ước tính lên đến 513.360 MW, trong đó có tầm 8,6% diện tích lãnh thổ Việt Nam có tiềm năng tốt để xây dựng các trạm điện gió cơ lớn (trong khi các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á lục địa chưa đến 3% diện tích lãnh thổ).
Chính vì vậy, điện gió vẫn đang được đẩy mạnh phát triển, song song với đó là các dự án thủy điện tích năng để tận dụng nguồn điện dư thừa trong những giai đoạn thừa điện như dự án thủy điện tích năng Bắc Ái ở Ninh Thuận.
Các doanh nghiệp niêm yết nổi bật đã và đang phát triển các dự án điện tái tạo bao gồm HDG, GEG, BCG, REE, …
4. Điện hạt nhân: nguồn năng lượng giá rẻ có tính chất ổn định cao với lợi thế nguyên liệu khi Việt Nam là một trong hai quốc gia Đông Nam Á có tài nguyên Uranium để sản xuất điện hạt nhân (còn lại là Indonesia), trước đây trong quy hoạch điện VII đã từng có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận với công suất 975MW trong năm 2020 và 10.700 MW trong năm 2030, tuy nhiên, sự kiện nổ lò phản ứng số 1 tại nhà máy hạt nhân Fukushima vào ngày 12/3/2011 khiến nỗi sợ về điện hạt nhân ở Việt Nam và trên thế giới gia tăng. Đây là một trong các nguyên nhân khiến dự án bị dừng thực hiện từ năm 2016.
5. Nguồn khác: nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc, Lào; nguồn điện sinh khối, nguồn điện rác, …
CÁCH THỨC VẬN HÀNH NGÀNH ĐIỆN
Trong phần lớn thời gian, Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia – NLDC (A0) sẽ cân đối nhu cầu và khả năng sản xuất của từng khu vực để cân đối nguồn điện đầu vào và đầu ra phù hợp sao cho hoạt động ổn định và kinh tế nhất, chính vì thế, nguồn điện ưu tiên của A0 thường là thủy điện do đây là nguồn điện rẻ nhất và huy động nhanh nhất, tuy nhiên, thủy điện ở Việt Nam đã gần như đạt giới hạn và chịu ảnh hưởng lớn bởi yếu tố thủy văn, tức thay đổi theo chu kì ENSO, nhiều nước vào các năm Lanina và thiếu nước và các năm Elnino, chính vì thế gây thiếu hụt điện cục bộ trong các năm Lanina (như năm 2023 tại Miền Bắc Việt Nam).
Chính vì thế để đảm bảo an toàn lưới điện và hoạt động thông suốt, A0 buộc phải huy động các nguồn có giá đắt hơn như Nhiệt điện than, khí từ trước để vận hành phụ tải nền, sau đó mới hướng đến các nguồn tái tạo như mặt trời, gió để xử lý công suất phụ tải đỉnh.
CƠ HỘI VỚI CÁC CỔ PHIẾU TRÊN SÀN
Với nền kinh tế đang phát triển chí ít trong 10 – 15 năm tới, Việt Nam có nhu cầu lớn về gia tăng năng lượng điện, chính vì thế nhu cầu tư vấn thiết kế xây dựng các nhà máy nhiệt điện khí, nhà máy phong điện, … vẫn tiếp tục được gia tăng, đây là mảng kinh doanh của các doanh nghiệp tư vấn, trong đó TV2 là doanh nghiệp dẫn đầu.
Việc thiếu hụt điện xảy ra có tính chất cục bộ địa phương khiến nhu cầu đường dây truyền tải điện nhằm thỏa lấp kịp thời các khu vực thiếu điện là câu chuyện cấp thiết đã và đang xảy ra, chính vì việc xây dựng các đường truyền tải là câu chuyện kéo dài trong thời gian tới, hỗ trợ nguồn việc chính cho PC1 – doanh nghiệp dẫn đầu mảng xây lắp điện.
Ngoài ra, tình hình thủy văn thay đổi khi Elnino bắt đầu kết thúc từ giữa năm 2024 và sau đó chuyển dần sang Lanina tạo cơ hội lớn cho cả 2 nhóm cổ phiếu nhiệt điện và thủy điện.
Với các cổ phiếu nhiệt điện, việc A0 huy động sớm và ưu tiên các nguồn nhiệt điện nhằm dự trữ nguồn thủy điện cho cao điểm mùa khô là lợi thế giúp các doanh nghiệp này có kết quả kinh doanh tốt trong Q1 và Q2/2024, tiêu biểu như QTP và PPC.
Tuy nhiên, sau khi Elnino qua đi, hiện tượng Lanina quay lại là bước khởi đầu cho các doanh nghiệp thủy điện, trong đó 3 cổ phiếu REE, DPG, HDG là những cái tên nổi bật với xu hướng trên.
Song song câu chuyện Elnino, việc mở rộng nguồn cung điện luôn được hướng đến, trong đó nguồn cung phong điện có lợi thế phát triển nhất nhờ chi phí đầu tư giảm dần (nhờ công nghệ phát triển) kết hợp sự tới hạn của các nguồn năng lượng hiện hữu, chính vì thế BCG với 300MW điện gió đang được thi công và đi vào hoạt động, hay HDG với 71MW điện gió Phước Hữu + 7A giai đoạn 2, REE với 128MW điện gió V1-3 Trà Vinh GĐ 2 và Trà Vinh V1-5, V1-6, … là những cổ phiếu phù hợp để xem xét trong chu kì sắp tới.
Dù vậy, việc giá điện Việt Nam vẫn đang được EVN phân phối với giá thấp hơn giá thành mua vào, khiến EVN ghi nhận lỗ lũy kế trong thời gian qua và kéo theo việc nợ đọng lớn tại các công ty sản xuất điện là rủi ro dòng tiền lớn đối với tất cả các công ty trong ngành, đây cũng là điểm kéo khiến các doanh nghiệp gần như đã hết nợ vay (như BTP) không thể gia tăng tỷ lệ cổ tức (do EVN gia tăng công nợ).
Song việc EVN được tăng giá điện dưới 5%, 3 tháng điều chỉnh 1 lần là một sự thay đổi lớn trong năm 2024, qua đó xử lý công nợ tồn đọng và thúc đẩy các doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng thêm nguồn điện trong tương lai.



