Vén tấm màn bí mật của thị trường chứng khoán VN

Williams Brown

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit. Dolor, alias aspernatur quam voluptates sint, dolore doloribus voluptas labore temporibus earum eveniet, reiciendis.

Categories


Tags


Vén tấm màn bí mật của thị trường chứng khoán VN

(Thuyết âm mưu) – Với niềm đam mê khám phá về những điều bất ngờ chưa xảy ra ở hiện tại và chỉ xảy ra trong tương lai sau đó được nhiều người công nhận là ĐÚNG, người viết sử dụng mô thức mới cho thị trường cổ phiếu niêm yết trên sàn CKVN, lấy ví dụ thực tế một vài cổ phiếu.

Quyền định giá cổ phiếu

Nguồn gốc của mọi quyền lực đều thể hiện ở quyền định giá thông qua quá trình khống chế giá cả để thực hiện phương thức phân phối của cải theo kiểu “lợi mình, hại người”. Hiếm khi giá cả được sinh ra một cách tự nhiện, phía chiếm ưu thế vốn dĩ không từ bất cứ thủ đoạn nào để bảo vệ lợi ích của mình.

Để bàn về vấn đề giá, chúng ta cần phải liên tưởng tới việc nghiên cứu chiến tranh nhằm tiếp cận được hình ảnh gốc của sự việc.

Đặt ra giá, lật ngược giá, bớp méo giá, thao túng giá đều là kết quả của những cuộc đọ sức quyết liệt lặp đi lặp lại giữa những người trong cuộc. Nếu không có yếu tố con người làm bối cảnh tham chiếu thì chúng ta không thể hiểu rõ quỹ đạo hình thành giá cả

Xét từ góc độ giá chứng khoán, những ai khống chế được các công ty niêm yết trên 2 sàn chứng khoán thì những người đó khống chế được giá cổ phiếu. Khống chế là việc làm cho các công ty niêm yết chủ động hoặc bị động chấp nhận sự sắp đặt cấp cao hơn về quyền lực vì lợi ích hoặc do bị ép buộc.

Con người và tri thức của họ trong thị trường cổ phiếu

Con người ta là những kẻ tham dự chứ không phải chỉ là kẻ quan sát, tri thức mà họ có thể thâu nhận được không đủ để dẫn dắt họ trong hành động. Họ không thể ra quyết định chỉ dựa trên tri thức.

Hiểu biết của người ta vốn dĩ là không hoàn hảo bởi vì họ là một phần của thực tại và một phần thì không thể hiểu trọn vẹn được cái tổng thể, tức là hiểu biết đó không trọn vẹn và theo những cách không thể định nghĩa được chính xác, hiểu biết đó lại còn méo mó.

Não bộ của người không thể nắm bắt được thực tế một cách trực tiếp mà chỉ có thể làm việc đó thông qua những thông tin mà nó rút ra được từ thực tế. Khả năng xử lý thông tin của não người là có giới hạn, trong khi lượng thông tin cần xử lý trên thực tế là vô hạn.

Trí óc vì thế bắt buộc phải giảm lượng thông tin có sẵn xuống một tỉ lệ có thể xử lý được bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: phép khái quát hóa, phép so sánh, ẩn dụ, thói quen, nghi thức, cùng các thông lệ khác. Những kỹ thuật này bóp méo các thông tin căn bản, nhưng lại sinh ra một thực tế phức tạp hơn nhiều của chính chúng, cùng với nhiệm vụ phải hiểu về thực tế ấy

Để có được tri thức cần phải có một sự tách bạch giữa suy nghĩ và những đối tượng của suy nghĩ – tức các dữ kiện phải độc lập với những mệnh đề về chúng và thực khó thiết lập được sự tách bạch này khi ta là một phần của cái mà ta đang tìm cách hiểu. Người ta phải đặt chính mình vào vị trí của một người quan sát tách biệt với thực tế.

Hai nguyên lý cách vận hành của bộ não con người:

Một, cho rằng ý thức của con người là mới phát triển tương đối gần đây và vượt hẳn bộ não động vật

Hai, cho rằng cảm xúc và lý trí là không thể tách rời. Những đặc tính này được phản ảnh trong ngôn ngữ chúng ta dùng. Ngôn ngữ thông thường cho ta một thế giới quan nhiều xúc cảm và không chính xác, nhưng nó lại có một năng lực đặc biệt trong việc nhận ra các đặc điểm cần thiết cho việc ra quyết định tức thì

Luận lý học và toán học tuy chính xác và khách quan hơn nhưng khi phải thích nghi với đời sống thì chỉ có công dụng hạn chế

Đưa tri thức của con người vào thị trường chứng khoán:

Theo thông kê của người viết, hiện ở Việt Nam có 2 nhóm chơi chứng khoán chính. Nhóm 1 chơi chứng khoán từ 2001 – 2021 luôn luôn thắng và ít khi thua lỗ nặng, khi có rủi ro họ luôn chạy trước – họ được mệnh danh là tầng lớp tinh anh (nhà tạo lập thị trường, người quyết định giá cổ phiếu theo sự sắp xếp của họ, tri thức của họ rất siêu phàm). Tầng lớp này không xuất hiện và không ai biết họ là ai, họ là tàng hình.

Trong khoảng hơn 11 triệu người chơi chứng khoán bằng tài khoản thật thì nhóm này chỉ có chiếm 0,05% còn lại là nhóm 2 – gồm tất cả mọi thành phần còn lại của xã hội, nhóm này chơi chứng khoán từ 2001 – 2021 và có người mới vào chơi trong thời gian gần đây đều có đặc điểm như sau: lúc đầu họ thắng rất nhiều và sau đó thua lỗ cũng rất nhiều, mất vốn liên tục, tài sản không tăng mấy khi tổng kết cả 1 quá trình.

Nhóm 1: biết trước lộ trình đường đi của chính sách trong nước, quyết định giá cổ phiếu như thế nào trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Họ hành động thu gom tích lũy cổ phiếu vào khi nhóm 2 chưa biết, thời gian thu gom lâu or nhanh tùy theo kế hoạch, sau khi xong họ đẩy giá, tạo thanh khoản và ra tin tốt hỗ trợ để xả hàng theo lộ trình.

Nhược điểm của họ là không biết được kế hoạch của ông trùm tài chính thế giới trong tương lai.

Nhóm 2: họ không biết được lộ trình, chính sách như nhóm 1 nên họ dùng công cụ phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật, dòng tiền, kinh nghiệm,…(xem thêm bên dưới) để hỗ trợ cho họ đầu tư. Họ khá bảo thủ, chủ quan không có khách quan trong quá trình chơi cổ phiếu. Tri thức của họ hạn hẹp, thời gian cho họ nghiên cứu rất ít. Họ hay xuất hiện trên truyền thông, cộng đồng mạng, giao lưu bên ngoài,…

Đằng sau màn kịch bí mật:

Sau khi các nhà tài phiệt ở Châu Âu sáng tạo và thành lập hệ thống ngân hàng, thị trường trái phiếu, họ lại tiếp tục thành lập thị trường cổ phiếu vào thế kỷ 18.

Lịch sử nguồn gốc và lịch sử của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán có một lịch sử lâu đời. Theo như nhà lịch sử học người Pháp Fernand Braudel thì vào thế kỷ thứ 11 tại Ai Cập, các thương nhân người Do Thái và Hồi Giáo đã thành lập một hình thức giao thương tương tự như các hiệp hội thương mại ngày nay.

Họ rất là am hiểu về tín dụng cũng như là các phương thức thanh toán. Những ý kiến mà Braudel đưa ra đã phủ nhận những giả định cho rằng người Ý mới chính là những người sáng chế ra các phương thức thanh toán và ứng dụng.

Vào thế kỷ thứ 12 tại Pháp, Courratiers de Change đã thay mặt cho các ngân hàng xử lý việc quản lý và điều tiết các khoản nợ của cộng đồng nông nghiệp. Lúc bấy giờ, Courratiers de Change có thể được xem như là những người định giá hàng tịch thu đầu tiên bởi vì họ chỉ chuyên về giải quyết các khoản nợ. Người dân vùng Flanders và các quận lân cận cũng bắt đầu thực hiện ý tưởng này và Beurzen sớm được giới thiệu tại Ghent và Amsterdam.

Vào cuối thế kỷ thứ 13, những thương nhân chuyên giao dịch hàng hóa tại Bruges đã tập hợp bên trong nhà của một người đàn ông tên là Van Der Beurse. Vào năm 1309, các thương nhân đặt tên cho nhóm là “Brugse Beurse” và họ bắt đầu thể chế hóa các cuộc họp không chính thức của mình.

Vào giữa thế kỷ thứ 13, các chủ ngân hàng của Venice đã bắt đầu kinh doanh công trái nhà nước. Vào năm 1351, chính quyền Venice đã phải ngăn chặn sự lan truyền của những tin đồn thất thiệt nhằm mục đích làm giảm giá trị ngân quỹ của chính phủ. Trong suốt thế kỷ thứ 14, các chủ ngân hàng của Pisa, Verona, Genoa và Florence cũng đã bắt đầu kinh doanh công trái nhà nước. Điều này rất khả thi bởi vì những thành phố độc lập như Pisa, Verona, Genoa và Florence được điều hành bởi một nhóm người có ảnh hưởng chứ không phải một quốc vương.

Sau đó tại Hà Lan, mọi người bắt đầu chứng kiến sự ra đời của các công ty cổ phần. Điều này đã mang đến cho các cổ đông những cơ hội đầu tư vào các dự án kinh doanh và họ sẽ phải chịu trách nhiệm cho những lợi nhuận cũng như là thua lỗ của bản thân.

Năm 1602, Công ty Đông Ấn Hà Lan đã phát hành những cổ phiếu đầu tiên của mình thông qua thị trường chứng khoán Amsterdam và đó là công ty đầu tiên phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Năm 1688, một sàn giao dịch chứng khoán tại Luân Đôn bắt đầu đi vào hoạt động. Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam (hay còn gọi là Amsterdam Beurs) là sàn giao dịch đầu tiên tiến hành dịch vụ giao dịch liên hồi trong những năm đầu của thế kỷ thứ 17. Theo Murray Sayle, người Hà Lan là những người khởi xướng cho việc buôn bán ngắn hạn, lựa chọn giao dịch, ngân hàng giao thương và các công cụ đầu cơ khác. Ngày nay, tại các quốc gia phát triển và đang phát triển đều có sự hiện hữu của thị trường chứng khoán, nhưng các thị trường lớn nhất đều nằm tại các quốc gia như Mỹ, Canada, Trung Quốc (Hồng Kông), Ấn Độ, Anh, Đức, Pháp, và Nhật Bản.

Hệ thống ngân hàng mục đích mở rộng hoặc thu hẹp cung tiền ra nền kinh tế nhằm mục đích làm nền kinh tế tăng trưởng theo kế hoạch.

Bản chất của thị trường chứng khoán
Bản chất của thị trường chứng khoán

Thị trường trái phiếu là nơi Chính phủ vay tiền từ tổ chức tài chính nước ngoài, trong nước. Chính phủ lấy thuế của người dân trong tương lai làm tài sản đảm bảo để đi vay. Ngoài ra các doanh nghiệp lớn cũng thông quá thị trường trái phiếu để vay tiền nhàn rỗi khi thị trường cổ phiếu đã hết cơ hội vay.

Thị trường cổ phiếu là nơi để doanh nghiệp vay tiền của người chơi và thiết kế trò chơi cổ phiếu lên hoặc xuống để ăn chênh lệch bằng cách dùng tin tốt và tin xấu.

Thực tế trò chơi thị trường chứng khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu giao dịch tháng 7.2000 đến nay đã hơn 20 năm, TTCK Việt Nam vẫn là thị trường sơ khai chưa phát triển nhiều như các thị trường Mỹ, Hong Kong, Singaprore,…do đó trò chơi chủ yếu là doanh nghiệp vay tiền từ người chơi và nhóm lợi ích đầu cơ chênh lệch giá dựa trên thông tin là chính.

Cổ phiếu Việt Nam chia làm 4 loại:

Loại 1: cổ phiếu đại diện thị trường (cổ phiếu trụ), cổ phiếu này kinh doanh các mặt hàng độc quyền, nhóm này nhà nước chiếm tỷ lệ lớn.

Loại 2: cổ phiếu của nhóm giá trị trung bình, hay gọi là cổ phiếu blue-chip, cổ phiếu cơ bản, kinh doanh bất động sản, sắt thép, dầu khí, dệt may, cổ phiếu này nhóm nhà giàu trung lưu có mối quan hệ với nhóm lợi ích.

Loại 3: cổ phiếu nhóm trung bình, cổ phiếu này có ít mối quan hệ lợi ích, có thể gặp nguy hiểm bất cứ lúc này khi khủng hoảng kinh tế – chính trị.

Loại 4: cổ phiếu trà đá hay còn gọi là cổ phiếu rác. Cổ phiếu này có giá rất rẻ, gặp nguy hiểm bất cứ lúc nào và chắc chắn 100% là bị lái.

Đạo diễn trò chơi cổ phiếu:

Phần 1 của vở kịch: Lấy ví dụ về kế hoạch đưa Vn-Index lên 595,x – 609,x vào cuối tháng 3.2014 để chốt lời.

Lấy cớ gì để thị trường lên mức đó trong lúc hiện tại Vn-Index ở mức 470,x – 480,x vào tháng 9.2013. Lấy 2 tin tốt chưa biết có đúng sự thật không nhưng cứ lấy vì người chơi Việt Nam dễ tin vào lời nói ngon và ngọt, 2 tin đó là: Việt Nam tham gia TPP và nới room.

Tháng gom hàng, tích lũy: Đầu tháng 9 đến cuối tháng 12.2013

Tháng kích thanh khoản, tạo sự chú ý của đám đông là tháng 1-2.2014 vì trước và sau tết Nguyên Đán, người chơi có thêm tiền và dễ tin vào lời ngon và ngọt.

Kết quả: vở kịch đạt được thành công to lớn

Phần 2 của vở kịch: Cho Vn-Index giảm sâu về 500-510,x vào cuối tháng 5.2014 để thu gom cổ phiếu cho phần 3 của vở kịch

Lấy cớ gì để thị trường giảm về mức đó trong khi hiện tại Vn-Index đang vượt mốc 600,x trong 3 năm gần đây, tâm lý lạc quan bao trùm hơn 10 triệu người chơi chứng khoán. Lấy 2 tin: xử vụ án Bầu Kiên và Trung Quốc đưa giàn khoan và biển Đông.

Tháng xả hàng: giữa tháng 3 đến giữa tháng 4.2014. Thời gian xả hàng 1 tháng

Tạo tâm lý bi quan bắt đầu vào giữa tháng 4.2014 với vụ xử Bầu Kiên

Kết quả: vở kịch cũng đạt được kết qua như ý

Phần 3 của vở kịch: Đưa Vn-Index lên 815,x – 833,x vào tháng 12.2014 – 1.2015

Lấy cớ gì: người viết xin giữ bí mật, chỉ tiết lộ với nhóm VIPs

Lộ trình gom hàng: giữa tháng 5 đến cuối tháng 6.2014

Tháng kích thanh khoản là đầu tháng 8.2014

Lộ trình tăng, giảm của tháng 9-12.2014 cũng có kế hoạch rõ ràng.

Nguồn: sưu tầm và biên tập trên blogspot


Bí mật đằng sau giá cổ phiếu

Nhiều người vẫn cho rằng, đầu tư chứng khoán chẳng qua chỉ là một trò đánh bạc hợp pháp. Thắng thua là do may rủi. Nhưng nhà đầu tư chứng khoán nào cũng hiểu, giá cổ phiếu được quyết định bởi thị trường – nơi mà cung cầu gặp nhau, cung nhiều cầu ít thì giá sẽ giảm, và ngược lại. Vấn đề là cái gì tác động đến cung và cầu để từ đó giá cổ phiếu lên – xuống.

Không ai có thể tìm được một công thức đầy đủ diễn tả chính xác sự di chuyển của giá cổ phiếu, nhưng lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tế chỉ ra rằng, có ba nhóm nguyên nhân chính, đó là: các yếu tố cơ bản, các yếu tố kỹ thuật và xúc cảm của thị trường.

Các yếu tố cơ bản

Trong thị trường hiệu quả, giá cổ phiếu trước tiên sẽ được quyết định bởi các yếu tố cơ bản, thường thấy là sự kết hợp của căn cứ về thu nhập (chẳng hạn như EPS) và hệ số nhân giá trị (ví dụ P/E).

Cổ đông sẽ có quyền đối với thu nhập của cổ phiếu và giá trị thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) chính là phần giá trị mang về từ các khoản đầu tư của họ. Vì thế, khi bạn mua một cổ phiếu có nghĩa là bạn đang mua một phần trong toàn bộ dòng thu nhập tương lai của doanh nghiệp. Đó cũng là lý do vì sao xuất hiện hệ số nhân giá trị. Hệ số này nhằm xác định mức giá mà bạn sẵn sàng trả để sở hữu dòng thu nhập trong tương lai.

Một phần trong thu nhập có thể được phân phối cho cổ đông dưới dạng cổ tức, phần còn lại có thể được doanh nghiệp sử dụng để tái đầu tư vào các dự án tiềm năng. Dòng thu nhập trong tương lai gồm cả mức thu nhập hiện tại và tăng trưởng thu nhập kỳ vọng.

Nói chung, hệ số nhân giá trị hay giá cổ phiếu cũng chỉ là cách thể hiện giá trị của dòng thu nhập dự kiến trong tương lai chiết khấu về hiện tại.

Việc đo lường khả năng thu nhập tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. Mỗi ngành khác nhau sẽ có những thước đo khác nhau. Thông thường, các công ty đã tương đối lớn mạnh so với các công ty khác trong ngành thì thước đo là cổ tức trên mỗi cổ phiếu, tức là những gì mà cổ đông thực sự nhận được.

Hệ số nhân giá trị nhấn mạnh kỳ vọng của nhà đầu tư vào tương lai của doanh nghiệp. Ở đây có hai yếu tố cần được xem xét: thứ nhất là tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng trong thu nhập; thứ hai là lãi suất được dùng để tính giá trị hiện tại của dòng thu nhập tương lai, gọi là lãi suất chiết khấu. Một tỷ lệ tăng trưởng cao hơn sẽ cho một hệ số nhân giá trị cao hơn, nhưng một lãi suất chiết khấu cao hơn sẽ cho một hệ số nhân giá trị thấp hơn.

Đến đây, câu hỏi đặt ra là: cái gì quyết định lãi suất chiết khấu?

Yếu tố đầu tiên là rủi ro cổ phiếu. Thông thường, với mỗi loại cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ cảm nhận mức độ rủi ro khác nhau. Một cổ phiếu được xem là rủi ro hơn sẽ có mức lãi suất chiết khấu cao hơn, do vậy sẽ có hệ số nhân giá trị thấp hơn. Yếu tố thứ hai là lạm phát. Lạm phát cao hơn sẽ có mức lãi suất chiết khấu cao hơn, hệ số nhân giá trị cũng thấp hơn vì dòng thu nhập tương lai sẽ kém giá trị hơn trong môi trường lạm phát cao.

Các yếu tố kỹ thuật

Mọi chuyện sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu chỉ có các yếu tố cơ bản mới khiến giá cổ phiếu lên xuống. Nhưng các yếu tố kỹ thuật, bao gồm hỗn hợp nhiều điều kiện ngoại tác, có thể thay đổi mức cung – cầu của một loại cổ phiếu nào đó.

Các yếu tố kỹ thuật bao gồm:

– Lạm phát: chúng ta đã nhắc đến lạm phát như là một trong các yếu tố đầu vào của hệ số nhân giá trị. Thế nhưng, lạm phát còn có một sức điều khiển to lớn tới toàn bộ bối cảnh kỹ thuật. Thực tế đã chứng minh, lạm phát thấp có tương quan nghịch khá rõ ràng đối với giá trị cổ phiếu, cụ thể là lạm phát thấp thì hệ số nhân giá trị cao, và ngược lại.

– Thị trường, ngành và các đối thủ ngang tầm: giá cổ phiếu có khuynh hướng đi cùng với thị trường và cùng với các doanh nghiệp ngang sức với nó. Một số công ty đầu tư thành công cho rằng, sự kết hợp của toàn thị trường và sự dao động của ngành cho dù có tương phản với sự thể hiện đơn lẻ của một doanh nghiệp thì chúng cũng sẽ quyết định phần lớn sự di chuyển của giá cổ phiếu. Thậm chí, có nghiên cứu cho rằng, yếu tố thị trường giải thích 90% sự di chuyển giá cổ phiếu. Thế nhưng, vẫn có trường hợp một viễn cảnh tệ hại đột ngột xảy ra đối với một loại cổ phiếu đơn lẻ thì nó cũng thường “làm bị thương” các cổ phiếu đơn lẻ khác, kéo thấp mức cầu của toàn ngành. Mặc dù vậy, đây vẫn là vấn đề đang gây nhiều tranh luận.

– Các cơ hội đầu tư thay thế: các công ty phải cạnh tranh tìm kiếm sự đầu tư tiền vào cổ phiếu công ty mình với các lớp tài sản khác trong bối cảnh đầu tư toàn cầu. Các cơ hội đầu tư thay thế như trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ, bất động sản, cổ phiếu của doanh nghiệp nước ngoài… có thể là nguyên nhân gây nên sự thay đổi trong cung – cầu đối với cổ phiếu trong nước. Mối quan hệ của mức cầu đối với cổ phiếu trong nước và các khoản đầu tư khác cũng rất khó xác định, nhưng rõ ràng là nó đóng một vai trò không hề nhỏ. Nếu không thì báo chí đã không tốn quá nhiều giấy mực để viết về mối quan hệ giữa TTCK và thị trường bất động sản.

– Những giao dịch phát sinh: những giao dịch phát sinh là những giao dịch mua bán cổ phiếu với động lực là một lý do nào đó nằm ngoài yếu tố giá trị nội tại của cổ phiếu. Những giao dịch này gồm cả các giao dịch bên trong nhằm mục tiêu quản trị, tức là chúng được thực hiện nhằm đáp ứng một mục tiêu quản trị danh mục đầu tư đã lên kế hoạch trước. Một ví dụ khác là nhà đầu tư có tổ chức mua hoặc bán chứng khoán nhằm phòng ngừa rủi ro cho các khoản đầu tư khác. Mặc dù những giao dịch này không chính thức nói lên việc “ủng hộ” hay “chống lại” cổ phiếu, nhưng chúng thật sự ảnh hưởng đến mức cung và cầu, do đó nó có thể ảnh hưởng đến sự di chuyển giá của cổ phiếu.

– Các yếu tố về nhân khẩu học: một vài công trình quan trọng được thực hiện để nghiên cứu yếu tố cơ bản về nhà đầu tư (các nghiên cứu nhân khẩu học) cho thấy, trong khi nhà đầu tư từ trẻ đến trung niên là những nhà đầu tư rất háo hức kiếm tiền, họ có khuynh hướng thích đầu tư vào cổ phiếu bởi vì đây được xem là mảnh đất màu mỡ, thì nhà đầu tư lớn tuổi hơn lại có khuynh hướng muốn rút khỏi thị trường cổ phiếu, tìm kiếm những cơ hội đầu tư an toàn hơn nhằm phục vụ cho kế hoạch hưu trí. Lý thuyết trên cũng cho biết, khi nhà đầu tư từ trẻ đến trung niên chiếm tỷ lệ lớn hơn trong dân chúng đầu tư thì mức cầu cổ phiếu cũng gia tăng và hệ số nhân giá trị cũng cao hơn.

– Đường xu hướng: thông thường, giá cổ phiếu sẽ di chuyển theo đường xu hướng ngắn hạn. Nếu xu hướng đi lên tích cực thì “thành công nối tiếp thành công”, nhưng đôi khi giá cổ phiếu cũng “cư xử” ngược với đường xu hướng.

– Khả năng thanh khoản: thanh khoản là một yếu tố rất quan trọng và đôi khi được xem là yếu tố quan trọng nhất. Thanh khoản cho thấy mức độ quan tâm và chú ý của nhà đầu tư đối với một cổ phiếu nào đó. Cổ phiếu của công ty lớn thường có tính thanh khoản rất cao, còn các công ty nhỏ, có mức vốn hóa thấp thì tính thanh khoản thấp hơn. Mức độ giao dịch cũng là một thước đo thanh khoản. Thanh khoản cũng là mục tiêu mà hoạt động truyền thông của doanh nghiệp hướng tới (đó chính là mức độ thu hút nhà đầu tư).

Xúc cảm của thị trường

Xúc cảm của thị trường, cụ thể là tâm lý của những người tham gia thị trường, là yếu tố khó đo lường nhất, bởi nó thường có tính chủ quan, sự a dua hùa theo hay còn gọi là tâm lý đám đông và sự cố chấp.

Ví dụ, bạn có thể thực hiện một nhận định quan trọng về viễn cảnh tăng trưởng tương lai của cổ phiếu và tương lai thậm chí cũng ủng hộ bạn nhưng vào lúc đó, thị trường có thể đã nghĩ về những tin tức đang giữ giá cổ phiếu cao hoặc thấp và đôi khi bạn phải đợi một thời gian dài để các nhà đầu tư khác cũng chú ý đến những giá trị cơ bản như bạn.

Xúc cảm thị trường được phát hiện ra thông qua một lĩnh vực mới trong tài chính có tên gọi là tài chính hành vi. Nó bắt đầu với giả định rằng, thị trường không phải lúc nào cũng hiệu quả và sự không hiệu quả này có thể được giải thích bằng tâm lý học và các khoa học xã hội khác. Rất nhiều ý kiến trong tài chính hành vi cho thấy, nhiều nhà đầu tư phản ứng mạnh hơn đối với nỗi đau khi bị thua lỗ hơn là niềm hạnh phúc khi kiếm được tiền lời và do đó, nhà đầu tư có khuynh hướng cố chấp trong sai lầm. Sai lầm tiếp nối sai lầm!

Thay lời kết

Các dạng nhà đầu tư khác nhau sẽ phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Nhà đầu tư ngắn hạn và các chuyên gia “lướt sóng” có khuynh hướng giống nhau và ưu tiên xem trọng các yếu tố kỹ thuật.

Nhà đầu tư dài hạn thì lại xem trọng các yếu tố cơ bản, dù họ cũng nhận ra các yếu tố kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng.

Nhà đầu tư nào có lòng tin mạnh mẽ vào các yếu tố cơ bản có thể trung hòa với các yếu tố kỹ thuật thông qua sự tranh luận: các yếu tố kỹ thuật và xúc cảm thị trường có thể điều khiển thị trường trong ngắn hạn, nhưng các yếu tố cơ bản sẽ thiết lập giá cổ phiếu trong dài hạn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *