Chi phí sản xuất tăng, nguyên liệu hạn chế và nhu cầu thị trường có phần cầm chừng là những nguyên nhân khiến nhiều chuyên gia dự báo xuất khẩu thuỷ sản nửa cuối năm khó “bùng nổ”.
Chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu tại nhà máy của Công ty Thuỷ sản Minh Phú Hậu Giang (Hậu Giang). Ảnh minh họa: Vũ Sinh/TTXVN |
Kim ngạch “đội giá”
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP) trong 5 tháng đầu năm ngành tôm có mức tăng trưởng rất khích lệ; tôm thương phẩm tăng trên 10% và kim ngạch xuất khẩu tăng trên 40% so cùng kỳ năm 2021. Tuy nhiên, bước sang tháng 6 xuất khẩu tôm ghi nhận tăng trưởng âm với mức giảm 1%.
Bà Kim Thu – chuyên gia thị trường tôm của VASEP cho rằng, nguồn cung tôm nguyên liệu trong nước hạn chế, nhu cầu tiêu thụ từ các thị trường Mỹ, EU “chững” được coi là một trong những nguyên nhân khiến kết quả xuất khẩu tôm trong tháng 6 không được như mong đợi.
Kim ngạch xuất khẩu tôm tăng mạnh bất thường trong những tháng đầu năm nay còn được cho là do chi phí cước tàu tăng, góp phần làm tăng giá bán; hậu quả COVID-19 cuối năm 2021 khiến không ít doanh nghiệp tôm giảm chế biến và đẩy mạnh trả nợ đơn hàng vào đầu năm nay. Lạm phát tăng cũng phần nào tác động làm tăng giá tiêu thụ tôm.
Cùng quan điểm, ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần thực phẩm Sao Ta phân tích, chi phí cước tàu tăng đã góp phần tăng “ảo” thêm khoảng 10% giá trị kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, cuối năm 2021, hậu quả COVID-19 khiến không ít doanh nghiệp tôm giảm chế biến, dồn việc trả đơn sang nửa đầu năm 2022.
Theo ông Hồ Quốc Lực, nửa cuối năm xuất khẩu tôm khó bùng nổ khi chịu nhiều tác động từ chi phí sản xuất, nguồn nguyên liệu và thị trường. Xuất phát từ biến đổi khí hậu khiến nước trên hệ thống sông Cửu Long đã ngọt sớm hơn mọi năm không đáp ứng nhu cầu phát triển con tôm. Mặt khác, vụ nuôi chính năm 2022 tại miền Tây kết thúc sớm hơn dự kiến do ảnh hưởng bởi dịch bênh làm tôm chậm lớn, chết rải rác người nuôi phải thu hoạch sớm, khi cỡ tôm chưa đạt kỳ vọng.
Nếu mọi năm, đầu quý III là cao điểm mùa tôm chính của năm, đảm bảo đủ nguyên liệu cho chế biến thì năm nay mức phổ biến đáp ứng nguyên liệu ở các doanh nghiệp tôm là 2/3; thậm chí có ngày còn ít hơn, chỉ 1/2. Mặt khác, tôm cỡ lớn cũng giảm so năm trước, điều này ít nhiều gây khó khăn cho các doanh nghiệp tôm trả nợ đơn hàng.
Trong bối cảnh nêu trên, tại thị trường Mỹ, giá cả tiêu thụ lại có xu thế giảm vì tôm giá rẻ từ Ấn Độ và Ecuador thâm nhập mạnh mẽ. Lại thêm tôm không thuế chống bán phá giá từ Indonesia khiến tôm Việt chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn.
Hoàn cảnh này, thị trường mục tiêu là Nhật Bản. Mẫu mã sản phẩm tôm cung ứng thị trường Nhật Bản hết sức đa dạng, đòi hỏi chế biến tỉ mỉ, cầu kỳ, đẹp mắt, toàn là hàng tinh chế. Như vậy, năng suất sẽ không cao, mức tăng sản lượng không mạnh, nhưng rất phù hợp trong bối cảnh tình hình xuất khẩu tôm hiện nay.
Mặt khác chi phí cước tàu tới Nhật Bản không cao so các tuyến vận chuyển xa (Mỹ, EU) sẽ không làm tăng ảo giá bán, khiến việc tiêu thụ thuận lợi hơn. Mức lạm phát tại Nhật Bản thấp hơn các thị trường Mỹ và EU cũng là một lợi thế cho việc duy trì tiêu thụ. Năm 2022, ngành tôm phấn đấu đạt sản lượng 1 triệu tấn tôm thương phẩm. Mục tiêu trên còn phụ thuộc thời tiết ở 6 tháng cuối năm, nhưng có cơ sở là chuỗi hợp tác nuôi mới giữa nhà cung ứng, ngân hàng, đại lý và người nuôi ngày càng thể hiện tích cực rõ nét hơn.
Giải bài toán chi phí và nguyên liệu
Các doanh nghiệp thuỷ sản cho biết, hiện nay họ đang gánh nhiều khoản chi phí đầu vào, giá thành sản phẩm tăng cao ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm và ngành hàng.
Bà Tạ Hà nêu vấn đề, từ năm 2020 đến nay, với nhiều lý do từ “tắc cảng” do đại dịch COVID-19 và nay là giá nhiên liệu xăng dầu tăng, việc đặt container vốn đã khó khăn thì giá cước ở hầu hết các chặng tăng từ 4-5 lần. Tại thời điểm tháng 6/2022, dù đã giảm một chút, nhưng để xuất được một container 40 feet qua bờ Đông nước Mỹ thì giá cước đã khoảng 16.400 USD/container, tính cả chi phí vận chuyển đường bộ từ nhà máy tại các tỉnh tới Tp.Hồ Chí Minh(chiếm hơn 60%), thì trung bình 400-410 triệu đồng/container.
Xăng dầu tăng cao là nguyên nhân khiến 40-50% tàu khai thác hải sản đã nằm bờ. Nguồn nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy chế biến giảm từ 70-80% so với trước. Theo thống kê của cảng cá Hòn Rớ (Khánh Hòa), cho tới tháng 7/2022, đã có hơn 90% tàu đánh bắt không được hỗ trợ xăng dầu đã ngưng hoạt động. Sản lượng hải sản cập cảng cũng giảm từ 30-40%, chủ yếu từ các tàu đánh bắt ngắn ngày. Do nguồn nguyên liệu trong nước bị giảm mạnh nên các nhà máy chế biến hải sản cũng gặp khó khăn. Các doanh nghiệp buộc phải tăng nguồn nguyên liệu nhập khẩu nhưng không đủ cho chế biến.
Giá xăng dầu tăng cũng đẩy chi phí vận chuyển đường bộ, logistics tăng từ 10-20% so với trước. Đây là bài toán khó đối với các doanh nghiệp thủy sản trong bối cảnh thị trường thủy sản thế giới đã hồi phục sau COVID-19 và các nguồn cung đối thủ đang gia tăng cạnh tranh mạnh mẽ. Một thách thức, khó khăn khác mà các doanh nghiệp thủy sản đang gặp phải là các thủ tục Chứng nhận nguồn gốc thuỷ sản khai thác còn nhiều bất cập. Do đó, các doanh nghiệp vẫn còn vướng mắc khi sử dụng nguồn nguyên liệu khai thác có chứng nhận.
Bà Nguyễn Thị Thu Sắc – Chủ tịch Uỷ ban Hải sản VASEP thông tin, sau nhiều nỗ lực, EU vẫn chưa gỡ thẻ vàng IUU cho thủy sản Việt Nam. Vì vậy, VASEP đề nghị Nhà nước cần có chính sách đầu tư hạ tầng nghề cá và nâng cao năng lực thực thi quản lý tàu thuyền, khai thác biển. Trước mắt là cải tiến cơ sở dữ liệu quản lý tàu thuyền khai thác, sửa đổi quy định ghi nhật ký và số hóa quy trình kiểm tra, cấp xác nhận, chứng nhận khai thác.
Đối với việc phát triển nguyên liệu nuôi trồng, hiện chiếm 70% nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Các doanh nghiệp đều có nhu cầu mở rộng các vùng nuôi tập trung để tăng nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Tuy nhiên, hiện nay các địa phương đang đô thị hoá nên biến động từ quy hoạch đất cho sản xuất và những quy hoạch về sử dụng đất đang là thách thực lớn cho doanh nghiệp và người nuôi thuỷ sản.
Do vậy, trong kiến nghị gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới đây, VASEP đề xuất cần thúc đẩy nhanh việc sửa Luật Đất đai; trong đó cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề tích tụ ruộng đất, quy định sử dụng đất, quy hoạch đất để ngành thủy sản phát triển được các vùng nuôi tập trung phù hợp. Chính phủ và các địa phương cũng cần có chính sách để phát triển và mở rộng vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung.
Về nhập khẩu, VASEP cho rằng, các chính sách khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu thủy sản cho sản xuất, xuất khẩu còn thiếu, các thủ tục cho nhập khẩu vẫn còn khó khăn, vướng mắc. Trên cơ sở chiến lược phát triển thủy sản đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2021, Hiệp hội đề nghị Chính phủ ban hành quy định và chính sách khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu thủy sản để sản xuất xuất khẩu, gia công xuất khẩu. Điều này sẽ giúp cho Việt Nam tận dụng lợi thế về năng lực chế biến hiện đại, tay nghề công nhân và đạt được mục tiêu trở thành “nhà máy gia công” lớn của thuỷ sản thế giới.
Ngành cá tra bước vào giai đoạn giảm tốc, thị trường trông chờ vào Trung Quốc
Thị trường cá tra bắt đầu có dấu hiệu giảm sút sau nhiều tháng tăng trưởng mạnh do nhu cầu của Mỹ chững lại. Tuy nhiên, một tín hiệu tích cực khác đến từ Trung Quốc khi thị trường này dần mở cửa trở lại sau quãng thời gian dài phong toả nhiều thành phố để chống dịch.
Những tín hiệu ban đầu của thị trường đi xuống
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản (VASEP), kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam 6 tháng đầu năm đạt 1,4 tỷ USD, tăng 82,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, từ cuối quý II/2022 trở đi, tốc độ tăng trưởng này được dự báo sẽ chậm dần ở một số thị trường.
Ngay từ tháng 6, những dấu hiệu chững lại của thị trường cá tra bắt đầu thể hiện rõ. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu cá tra trong tháng 6 giảm 20% xuống khoảng 200 triệu USD, theo tính toán từ số liệu của VASEP. Nếu so với mức đỉnh thiết lập hồi tháng 4, kim ngạch xuất khẩu cá tra trong tháng 6 giảm tới 35%. Đồng thời đây là tháng giảm thứ hai liên tiếp.

Số liệu: Cục Xuất nhập khẩu, VASEP (Đức Quỳnh tổng hợp)
Một minh chứng khác cho sự giảm tốc của thị trường cá tra sau thời gian tăng trưởng nóng đó là kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp lớn trong ngành. Mặc dù ghi nhận doanh thu, lợi nhuận tăng quý II gấp nhiều lần so với cùng kỳ năm ngoái nhưng tính riêng trong tháng 6, một số doanh nghiệp thậm chí lỗ sau thuế.
Điển hình như CTCP Nam Việt (Mã: ANV), mặc dù lợi nhuận sau thuế trong quý II tăng tới 10 lần so với cùng kỳ năm ngoái nhưng tính riêng trong tháng 6, công ty lỗ 2 tỷ đồng.

Kết quả kinh doanh của Nam Việt trong quý II (Đức Quỳnh tổng hợp từ bản tin IR của Nam Việt)
Hay với Vĩnh Hoàn, doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lớn nhất Việt Nam, ghi nhận doanh thu giảm 2/3 tháng của quý II. Trong đó, doanh thu trong tháng 6 giảm mạnh nhất tới 30% so với tháng 5 xuống 1.063 tỷ đồng.
Mỹ là thị trường đóng góp nhiều doanh thu nhất cho Vĩnh Hoàn với tỷ trọng khoảng 50%. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường kéo doanh thu của công ty giảm mạnh nhất trong tháng 6 khi kim ngạch chỉ đạt 330 tỷ đồng, sụt giảm tới 59% so với tháng 5.

Số liệu: BCTC quý II và bản tin IR các tháng của Vĩnh Hoàn (Đức Quỳnh tổng hợp)
Trong số các thị trường xuất khẩu cá tra lớn của Việt Nam, Mỹ đứng vị trí số 2 sau Trung Quốc – Hồng Kông với kim ngạch 356,4 triệu USD, tăng 111% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 25% tổng giá trị xuất khẩu, theo số liệu của VASEP.
Tuy nhiên, trong 2 tháng trở lại đây, tăng trưởng xuất khẩu cá tra sang thị trường này đã bắt đầu chậm lại.

Số liệu: VASEP (Đức Quỳnh tổng hợp)
VASEP cho biết theo nhận định của các nhà nhập khẩu, tình hình tiêu thụ thủy sản nói chung, trong đó có cá tra tại Mỹ có dấu hiệu chững. Lạm phát của Mỹ đang ở mức cao nhất trong 4 thập kỷ qua.
Các nhu yếu phẩm ngày càng đắt đỏ. Tháng 6, giá thực phẩm tăng 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái, đây là mức tăng trung bình năm lớn nhất kể từ năm 1981. Theo dữ liệu mới từ IRI và 210 Analytics, giá cá tra tại Mỹ cũng tăng khoảng 22%.
Tại các chuỗi cửa hàng, siêu thị tiện ích, doanh số bán thủy sản đông lạnh bị ảnh hưởng tiêu cực bởi lạm phát gia tăng, nhưng không nghiêm trọng bằng doanh số bán hàng tươi sống. Kho hàng thủy sản nhập khẩu Mỹ vẫn còn đầy.
“Do đó, có thể trong quý tới, xuất khẩu cá tra sang Mỹ sẽ tăng trưởng thấp hơn so với các quý trước”, VASEP nhận định.
Theo nhận định của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), giá bán và sản lượng xuất khẩu phi lê trong tháng 6 lần lượt giảm 10% và 20% so với tháng trước khi nhu cầu tiêu dùng tại Mỹ đang giảm tốc dưới áp lực lạm phát và hàng tồn kho của các nhà nhập khẩu đang dồi dào sau đợt nhập khẩu ồ ạt khiến các nhà nhập khẩu giảm đơn đặt hàng mới.
Bên cạnh đó, rủi ro nguồn cung tăng mạnh trong quý II cũng sẽ tạo áp lực đối với giá bán cá tra. Báo cáo của công CTCP Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) cho rằng bắt đầu cuối quý II đến hết năm, nguồn cung cá tra sẽ tăng mạnh do giá bán ở mức cao, kích thích người dân thả cá.
Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, sản lượng cá tra trong tháng 6 đạt gần 135 nghìn tấn, tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kỳ vọng vào động lực từ thị trường Trung Quốc
Mặc dù còn nhiều yếu tố bất lợi ở thị trường trường Mỹ cũng như rủi ro nguồn cung tăng cao những tháng cuối năm, ngành cá tra vẫn còn một động lực tiềm năng lớn đến từ Trung Quốc.
Theo số liệu của VASEP, 6 tháng đầu năm 2022, tổng giá trị xuất khẩu cá tra đi thị trường Trung Quốc – Hồng Kông đạt 427,6 triệu USD, tăng 107% so với cùng kỳ năm trước, đồng thời là thị trường tiêu thụ cá tra lớn nhất của Việt Nam.

Nguồn: VASEP
Trước đó, chính sách Zero COVID của Trung Quốc đã cản trở hoạt động xuất khẩu cá tra của Việt Nam sang thị trường này.
Tuy nhiên, mới đây, Trung Quốc bắt đầu có động thái nới lỏng dần chính sách Zero COVID, trong đó, xóa bỏ chính sách đình chỉ nhập khẩu thực phẩm đông lạnh có nhiễm virus Sars-COV-2 sau gần 2 năm thực thi.
VASEP cũng cho rằng: “Việc Trung Quốc xóa bỏ chính sách đình chỉ nhập khẩu thực phẩm đông lạnh có nhiễm virus Sars-COV-2 sau gần 2 năm thực thi sẽ giúp cho hoạt động xuất khẩu cá tra đông lạnh của Việt Nam sang thị trường này tăng trưởng hơn nữa trong những quý cuối năm”.
BSC tỏ ra lạc quan với thị trường này: “Trung Quốc sẽ dần tiến tới việc mở cửa trở lại, và khi đó, với một thị trường có mức tiêu thụ cá tra ngang ngửa Mỹ và nhu cầu bị dồn nén trong hai năm dịch, sẽ là nhân tố quyết định đà tăng trưởng của ngành cá tra trong nửa cuối năm 2022”.
Đáng chú ý, kể từ giữa tháng 3, Trung Quốc đã tiến hành phong tỏa các thành phố để ngăn chặn việc bùng phát dịch COVID-19, đồng thời, tăng cường kiểm tra các lô hàng hóa xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc trong 2 tuần sau khi Trung Quốc công bố việc phong tỏa thành phố chưa có dấu hiệu sụt giảm, cho thấy nhu cầu nhập khẩu vẫn cao tại thị trường này.

Nguồn: BSC
Thế nhưng, với Vĩnh Hoàn, dù triển vọng tiêu thụ cá tra của Trung Quốc tươi sáng trong những tháng cuối năm nhưng doanh thu tại thị trường chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 15%.
VDSC chỉ ra động lực thúc đẩy tăng trưởng doanh thu của Vĩnh Hoàn trong 6 tháng cuối năm 2022 có thể sẽ đến từ thị trường Trung Quốc nếu nước này dỡ bỏ lệnh đóng cửa.
“Tuy nhiên, mức tăng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khó bù đắp cho mức giảm tại thị trường Mỹ do Mỹ là thị trường chính của Vĩnh Hoàn và giá bán tại Mỹ cao nhất trong tất cả các thị trường. Do đó, tăng trưởng lợi nhuận trong 6 tháng cuối năm của Vĩnh Hoàn có thể giảm tốc so với 6 tháng đầu năm”, VDSC nhận định.
Trái lại, với những doanh nghiệp xuất khẩu nhiều vào thị trường Trung Quốc thì đây là cơ hội lớn như Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Quốc gia (IDI Corp); Công ty CP Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX I, Công ty Cổ phần Trường Giang (TG FISHERY). Đây là 3 công ty xuất khẩu cá tra lớn nhất sang thị trường Trung Quốc – Hồng Kông.
Trong quý II, IDI ghi nhận doanh thu thuần 2.386 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 229,5 tỷ đồng, tăng gấp 8 lần so với quý II/2021.







Chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu tại nhà máy của Công ty Thuỷ sản Minh Phú Hậu Giang (Hậu Giang). Ảnh minh họa: Vũ Sinh/TTXVN