Tại hội thảo “Lạm phát, lãi suất và chứng khoán”, ông Nguyễn Minh Hoàng, Giám đốc phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Nhất Việt (VFS) cho biết lạm phát trên thế giới đã có dấu hiệu khả năng đạt đỉnh và kỳ vọng sẽ giảm dần trong nửa cuối năm 2022.
Cụ thể, giá của các loại hàng hoá như: lúa mì, dầu Brent, khí ga tự nhiên, thép… đều đang có mức sụt giảm so với đỉnh và sẽ phản ánh dần trong CPI của Mỹ ở những tháng tiếp theo. Cùng với đó, các quỹ đầu tư về hàng hoá (năng lượng, nông nghiệp, sắt thép) đã có dấu hiệu tạo đỉnh và điều chỉnh mạnh.
Với những dấu hiệu này, đại diện VFS cho rằng nhà đầu tư có thể kỳ vọng vào việc lạm phát tạo đỉnh.
Đây là tiền đề cho sự thay đổi chính sách của FED. Theo đó, nhiều khả năng FED sẽ tiếp tục tăng lãi suất lên mức khoảng 3% và giữ nguyên cho đến hết năm theo ông Hoàng.
Về thị trường trong nước, CPI được giữ ở mức nhỏ hơn 4%, Ngân hàng Nhà nước không thắt chặt quá nhanh chính sách. Ông Hoàng dự báo VN-Index sẽ dao động trong khoảng 1.150 – 1.300 điểm, tương ứng với mức tăng 150 điểm. VN-Index sẽ biến động trong biên hẹp như vậy để tạo cơ hội tích luỹ và tạo nền, tạo đà cho giai đoạn sau khi bối cảnh vĩ mô trở nên rõ ràng và sáng sủa hơn.
Ở trường hợp rủi ro hơn, VN-Index có thể giảm thêm 1 nhịp ngắn về 1.080 điểm và biên độ dao động là 1.080 – 1.300 điểm.
Xét về mặt tổng thể, ông Nguyễn Minh Hoàng cho rằng VN-Index đang ở trong vùng hấp dẫn dù là so sánh theo chiều ngang hay chiều dọc. Nếu so sánh theo chiều ngang, VN-Index đã rơi về mức định giá P/E khoảng 12,57, so với các thị trường chứng khoán trong khu vực thì Việt Nam đã ở mức hấp dẫn.
Định giá P/E dự phóng năm 2022 có thể rơi về 11, theo ông Nguyễn Minh Hoàng. Trong thời kỳ từ 2017-2022, khi định P/E rơi về khoảng 11 hay quanh mức 10 thì đó là vùng đáy của thị trường và sẽ có sự bật mạnh sau đó.
Đây cũng là lý do khối ngoại đã bắt đầu mua ròng trở lại từ tháng 4/2022 sau nhiều tháng liên tiếp bán ròng. Dù hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài có bán ròng vài phiên thì với bối cảnh vĩ mô tốt như bây giờ và dấu hiệu lạm phát có thể tạo đỉnh thì dòng tiền từ nước ngoài vẫn sẽ quay lại Việt Nam.
Về chiến lược đầu tư, ông Nguyễn Minh Hoàng cho rằng nhiều cổ phiếu tiềm năng đã có mức chiết khấu sâu và nhà đầu tư có thể gom dần các cổ phiếu có mức nền thấp với triển vọng dài hạn tốt.
Năm ngành tiềm năng cho giai đoạn tới theo ông là ngân hàng, năng lượng tái tạo, dầu khí, xây dựng và đầu tư công.
Trong đó, ngành ngân hàng kỳ vọng được nới room tín dụng trong tháng 8 cùng với nhu cầu vốn cao sau đại dịch của doanh nghiệp là xu hướng hỗ trợ cho ngành này. Ước tình tăng trưởng lợi nhuận sau thuế toàn ngành là 27% trong năm 2022.
Với nhu cầu sử dụng điện tăng khi nền kinh tế phục hồi trở lại với chi phí sản xuất rẻ, ngành năng lượng tái tạo kỳ vọng lợi nhuận sau thuế toàn ngành sẽ tăng 33%.
Về ngành dầu khí, giá dầu dự kiến vẫn neo ở mức cao do căng thẳng chiến tranh chưa kết thúc và nhu cầu vẫn tăng khi các quốc gia mở cửa trở lại đã hỗ trợ cho ngành này. Trong số 5 ngành tiềm năng nêu trên, dầu khí là ngành có lợi nhuận sau thuế năm 2022 ước tính tăng trưởng ở mức cao nhất, 60%.
Giá nguyên vật liệu xây dựng đang giảm giúp các doanh nghiệp xây dựng duy trì biên lợi nhuận. Các dự án bị trì hoãn trong năm 2021 do dịch sẽ dần được khởi động lại trong năm nay, hỗ trợ cho ngành xây dựng đạt được mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế toàn ngành ước tính 24%.
Cuối cùng về đầu tư công, với việc tỷ lệ giải ngân vẫn ở mức rất thấp 27% và còn nhiều dư địa tăng trưởng từ giờ đến cuối năm, đầu tư công là một trong các ngành tiềm năng trong giai đoạn tới. Lợi nhuận sau thuế toàn ngành cả năm 2022 ước tính tăng trưởng 20%.
Theo ông Nguyễn Minh Hoàng, hiện nay, nhiều chuyên gia, nhà đầu tư với tầm nhìn 2-3 năm đã bắt đầu xuống tiền và chấp nhận mức mua ở trung bình giá. Khi lạm phát và lãi suất có dấu hiệu đạt đỉnh hoặc ngừng tăng, có dấu hiệu quay đầu, thị trường chứng khoán chắc chắn có thể tạo đỉnh hoặc phản ứng sớm hơn.
Cũng tại hội thảo “Lạm phát, lãi suất và chứng khoán” do Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) tổ chức, các chuyên gia đều không đồng tình với quan điểm tăng lãi suất.
Theo đó, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), cho rằng nếu bây giờ Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất điều hành chưa chắc đã phát huy tác dụng.
Cụ thể, ở trong nước và trên thế giới, việc gia tăng lạm phát nguyên nhân không phải do tiền tệ. Cung tiền hiện đang ở mức độ vừa phải và việc tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát chỉ có nhiều tác dụng khi lạm phát xuất phát từ yếu tố tiền rẻ. Hơn thế nữa, cung tiền M2 của Việt Nam hiện chỉ tăng ở mức 2,51%, là mức thấp so với cùng kỳ năm 2021, lạm phát cơ bản cũng chỉ ở mức 1,25%.
Ngoài ra, TS. Cấn Văn Lực cho rằng việc tăng lãi suất là đi ngược với quan điểm thúc đẩy phục hồi của Việt Nam trong năm nay. Theo đó, Việt Nam đang triển khai chương trình phục hồi rất lớn lên tới 347.000 tỷ đồng, trong đó cơ quan nhà nước yêu cầu phải giữ ổn định mặt bằng lãi suất, thậm chí phấn đấu giảm nhẹ. Nếu lãi suất tăng đồng nghĩa với việc đi ngược chủ trương nay.
Chương trình phục hồi này cũng bao gồm gói hỗ trợ lãi suất 2% đối với một số đối tượng, ngành nghề, lĩnh vực. Việc tăng lãi suất sẽ đi ngược lại với gói hỗ trợ này.
“Dù là Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất điều hành thì các ngân hàng thương mại cũng sẽ tăng lãi suất trên thị trường. Vì lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước là lãi suất tín hiệu”, TS. Cấn Văn Lực cho hay.

Đồng quan điểm, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng nếu Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất thì “thị trường chứng khoán sẽ gay go”.
Theo đó, ông cho biết tỷ số P/E của thị trường chứng khoán hiện đang ở mức thấp (khoảng 12). Tỷ số nghịch đảo của P/E là E/P phải cao hơn 2 lần lãi suất gửi tiết kiệm. Nếu lãi suất tăng thì công thức này sẽ không đạt đạt, đồng nghĩa với việc lãi suất tăng không hỗ trợ cho thị trường chứng khoán.
Về lạm phát, TS. Lê Xuân Nghĩa nhận định lạm phát của Việt Nam là lạm phát chi phí đẩy. Khi đó, vai trò của ngân hàng là rất nhỏ. Lạm phát này khiến chính sách lãi suất trở nên bất lực nên việc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất như ngân hàng trung ương trên thế giới là điều không cần thiết.
Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, tác động lớn nhất vào lạm phát của Việt Nam hiện nay là do giá xăng dầu. Tuy nhiên, đây cũng là mặt hàng chịu nhiều thuế nhất hiện nay, từ thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu,… Chuyên gia không đồng tình với việc xăng dầu được bỏ thuế môi trường, vì bản chất thuế này thể hiện trách nhiệm với xã hội trách nhiệm với tài nguyên thiên nhiên.



