Trong khi những doanh nhân Việt gây dựng công ty chứng khoán giá trị tỷ USD, thu lãi hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, “sói già” ngoại lần lượt rời khỏi ngành dù gia nhập khá sớm kết thúc làn sóng M&A thứ nhất.
Nhìn lại thời kỳ ồ ạt mở công ty chứng khoán
Quay trở lại những năm 2005 – 2007, “mốt” lập công ty chứng khoán nở rộ ở Việt Nam. Các ngân hàng, công ty tài chính, cho đến các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, tư nhân đua nhau mở. Quyết định đầu tư ngoài ngành, Tập đoàn Cao su, PVN, Vinashin, Viglacera, Vinatex… đều sở hữu công ty chứng khoán.
Không đứng ngoài xu hướng, liên minh công ty xây dựng, bất động sản, ngân hàng (Xây dựng Hòa Bình, Nhà Thủ Đức, Đồng Tâm, Vạn Phát Hưng, Fideco, FICO, Phú Mỹ Thuận, MHB) cùng góp vốn để gia nhập ngành chứng khoán với Chứng khoán Sen Vàng.
Trước khi Luật Chứng khoán có hiệu lực vào ngày 1/1/2007, 37 công ty chứng khoán được cấp phép năm 2006, nâng tổng số lên 50. Cao trào thị trường Việt Nam có tới 105 công ty chứng khoán vào năm 2010.
Ban đầu mục tiêu hoạt động của nhiều công ty chứng khoán khá đơn giản. Ví dụ, một số trường hợp được mở ra để phục vụ nhu cầu nội bộ tập đoàn, tổng công ty hay hệ thống trong ngân hàng, nhà đầu tư là những cán bộ, công nhân viên. Định hướng nội bộ xuyên suốt từ cung cấp dịch vụ cho đến đầu tư, tự doanh. Đây chính là nguồn cơn lan truyền rủi ro hệ thống khi nền tảng tài chính của “đầu tàu” có vấn đề.
Cú sốc 2008 và thời kỳ M&A đầu tiên mở ra
Sức khỏe tài chính yếu cộng với cú giảm sâu năm 2008 và 2011, ngành chứng khoán rơi vào khủng hoảng. Tháng 11/2011, thị trường có 71 công ty chứng khoán báo lỗ lũy kế. Thời điểm này, sân chơi trong nước xuất hiện ngày một đông hơn những tổ chức tài chính tầm cỡ quốc tế và trong khu vực.
Nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào Việt Nam nhiều hơn xuất phát từ hai lý do. Thứ nhất, chứng khoán Việt Nam được quảng bá nhiều sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2006. Thứ hai là lộ trình mở cửa, tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong ngành chứng khoán theo cam kết sau khi là thành viên của WTO.
Ban đầu “room” ngoại hạn chế ở 49%, sau đó Việt Nam nâng lên trên 51% (Nghị định 60/2015), cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài (Nghị định 58/2012).
Tuy nhiên, ngoài Chứng khoán Mirae Asset, Chứng khoán Kim Eng (tên gọi cũ của Chứng khoán Maybank), đa phần các tổ chức nước ngoài chọn đường vòng bằng cách tìm kiếm đối tác trong nước và rót vốn.
Bắt nguồn từ đây, công ty chứng khoán có tên tiếng nước ngoài phổ biến hơn. Sơ khai, tên công ty chứng khoán gắn liền với tổ chức mẹ hay mang đậm bản sắc Việt Nam như Sài Gòn, Sen Vàng, Tầm nhìn, Hướng Việt, Biển Việt, Hùng Vương… Thậm chí có cái tên khá đơn giản như Công ty Chứng khoán Nhấp và Gọi.
Những tổ chức tài chính hàng đầu thế giới đặt chân vào Việt Nam
Từ đầu năm 2008, số thương vụ M&A ngành chứng khoán tăng vọt. Trong 4 năm 2008 – 2011, “ông lớn” từ Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Thái Lan… rót vốn vào công ty chứng khoán nhỏ.
Đơn cử, tháng 2/2008, Morgan Stanley Holdings (Singapore) rót 145 tỷ đồng để mua 48,33% vốn của Chứng khoán Hướng Việt. Sau đó, đổi tên thành Chứng khoán Morgan Stanley Hướng Việt. Morgan Stanley Holdings (Singapore) là thành viên của Morgan Stanley – ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán có trụ sở tại Mỹ. Đây là sự lựa chọn thay thế bởi kế hoạch thành lập công ty liên doanh giữa Morgan Stanley và SCIC bất thành.
Tháng 7/2008, Tập đoàn tài chính Golden Bridge (Hàn Quốc) nắm 49% vốn CTCP Chứng khoán Nhấp & Gọi (Click & Phone) khi công ty này nâng vốn từ 30 tỷ đồng lên 135 tỷ đồng. Sau đó, công ty chứng khoán này có thương hiệu mới là Golden Bridge Việt Nam (GBVS).
Đối tác khu vực Asean cũng lần lượt “se duyên” với các công ty chứng khoán nội. Năm 2008, Ngân hàng RHB Malaysia mua 49% vốn Chứng khoán Việt Nam (VSEC), Chứng khoán Seamico (Thái Lan) sở hữu 49% cổ phần Chứng khoán Thành Công Việt Nam. Seamico thành lập năm 1974 và đứng đầu về thị phần giao dịch tại Thái Lan khi đó. Tháng 11 cùng năm, thành viên Kenanga Investment Bank Berhad (Malaysia) mua 49% vốn Chứng khoán Vàng Việt Nam.
Cùng với làn sóng FDI, các ông lớn Hàn Quốc thâm nhập thị trường chứng khoán Việt Nam mạnh mẽ hơn. Tháng 11/2009, Tập đoàn Tài chính Woori (Hàn Quốc) trở thành cổ đông chiến lược của Chứng khoán Biển Việt với tỷ lệ sở hữu 49%. Cùng năm, Biển Việt đổi tên thành Chứng khoán Woori CBV. Woori có tài sản 217 tỷ USD, lợi nhuận năm 2009 là 2,7 tỷ USD, vị thế là một tổ chức tài chính hàng đầu châu Á niêm yết tại Mỹ.
Năm 2009, Woori CBV quảng bá chứng khoán Việt Nam ra quốc tế khi đổi bộ chỉ số CBV Indexes thành Vietnam Securities Indexes – chỉ số bao gồm cổ phiếu niêm yết trên cả HOSE và HNX. Đây là chỉ số chứng khoán đầu tiên được Bloomberg tài trợ và giới thiệu tới các tổ chức tài chính thế giới.
Giữa năm 2010, Korea Investment & Securities (KIS) mua 49% vốn của Chứng khoán Gia Quyền và trở thành cổ đông chiến lược. Hoạt động M&A bùng nổ, trong hai năm 2010 và 2011, Việt Nam có hơn 20 thương vụ bán vốn cho đối tác ngoại.
Tháng 7/2011, Ngân hàng Citygroup (Mỹ) mua gần 9,9% vốn của Chứng khoán Tầm Nhìn, đây là mối nhân duyên với nhân viên cũ – ông Đoàn Mạnh Khâm. Ông Khâm từng có kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư và trở về Việt Nam năm 1995.
Rời bỏ, kết thúc thời kỳ M&A sơ khai ngành chứng khoán
Trong thuở sơ khai của hoạt động M&A công ty chứng khoán tại Việt Nam, việc các đối tác quốc tế chỉ nắm một phần vốn chưa đủ để chi phối hoạt động của các đơn vị đã phát sinh nhiều vấn đề, trong đó có cả việc phát sinh mâu thuẫn với nhóm cổ đông cũ, không tìm được tiếng nói chung trong việc giải quyết những vấn đề cố hữu đã để lại trong giai đoạn phát triển nóng trước đó.
Lý do khác là việc các tổ chức ngoại mang theo mô hình và triết lý kinh doanh từ tổ chức mẹ vào Việt Nam, các sản phẩm dịch vụ có độ lệch với thị trường trong nước khiến công ty khó phát triển. Hệ quả của hai nguyên nhân trên, các công ty chứng khoán hậu M&A vẫn chưa thể cơ cấu và bứt phá.
Thất bại trong việc tham gia cơ cấu lại các công ty chứng khoán và xây dựng thương hiệu mới ở Việt Nam, các tổ chức nhiều kinh nghiệm trên thị trường quốc tế lựa chọn thoái vốn, rời khỏi ngành chứng khoán như Ngân hàng Citygroup (Mỹ), Morgan Stanley Holdings (Singapore), Tập đoàn Tài chính Woori (Hàn Quốc) … Hay những ông lớn trong khu vực cũng lần lượt rời khỏi ngành như Kenanga Investment Bank Berhad (Malaysia), Seamico (Thái Lan).
Gần đây nhất, vào tháng 10/2023, SMBC Nikko Securities Inc. (Nhật Bản) đã bán cắt lỗ toàn bộ hơn 8,91 triệu cổ phiếu PSI (tương đương tỷ lệ 14,9%) và không còn là cổ đông lớn của CTCP Chứng khoán Dầu khí. Tháng 2/2011, tổ chức từ Nhật Bản trở thành cổ đông chiến lược của Chứng khoán Dầu khí. Sau đó, SMBC Nikko Securities Inc. đã chi 133,7 tỷ đồng (gần 6,9 triệu USD tương đương 564 triệu yên Nhật) để mua lượng cổ phiếu trên.
Động thái của những tổ chức trên được xem như quyết định chấm dứt thời kỳ M&A đầu tiên trong ngành chứng khoán và phần lớn các thương vụ đều thất bại như vừa nêu trên. Nhưng thị trường tài chính không đơn giản như vậy, mỗi khi cánh cửa khác khép lại sẽ có cánh cửa khác mở ra.
Làn sóng M&A thứ nhất ngành chứng khoán Việt Nam sớm kết thúc và để lại kết quả không mấy khả quan, các tổ chức quốc tế lần lượt rời đi. Làn sóng M&A mới nổ ra với mô hình thâu tóm toàn bộ cổ phần, “thay tên đổi họ” với sự gia nhập của các tập đoàn Hàn Quốc và những định chế trong nước.
Cuộc đổ bộ của các đại gia Hàn Quốc
Song song với quyết định bán vốn tại những thương vụ M&A đời đầu, ngành chứng khoán Việt bước vào giai đoạn cơ cấu mới với hành động khác biệt.
Trong giai đoạn cơ cấu mới, các công ty chứng khoán giải quyết triệt để vấn đề sở hữu, bên mua sẽ chi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai, tổ chức mẹ ưu tiên nâng cao năng lực về vốn tạo động lực thúc đẩy công ty chứng khoán. Thứ ba, triết lý kinh doanh được thay đổi sát với nhu cầu thị trường.
Đó là ba đặc điểm chung của các thương vụ M&A trong thời kỳ mới. Nhưng các tổ chức không đi theo một mô típ chung. Sự khác biệt được tạo ra chính từ những tổ chức mẹ, người viết có thể khái quát thành ba nhóm. Từ đây, ba làn sóng thâu tóm công ty chứng khoán hình thành.
Thứ nhất đó là cuộc đổ bộ của các đại gia Hàn Quốc. Trong vòng 10 năm (2010 – 2020), đã có 8 tổ chức Hàn Quốc sở hữu công ty chức khoán tại Việt Nam trong đó có 4 đơn vị dẫn đầu đều đã hiện diện gồm Mirae Asset, NH Securities and Investment, KB Securities và Korea Investment and Securities.
Ngoại trừ việc mở mới như Mirae Asset (Việt Nam), hầu hết các đơn vị lựa chọn thâu tóm tổ chức trong nước và tiến hành tăng vốn điều lệ, đổi mới mô hình hoạt động. Như vừa nêu trên, Mở màn cho chuỗi thâu tóm là việc Korea Investment & Securities (KIS) đã mua lại cổ phần của Chứng khoán Gia Quyền (EPS) sau đó đổi tên thành Chứng khoán KIS Việt Nam vào tháng 12/2010.
Tháng 2/2016, Shinhan Investment Corportion mua lại Chứng khoán Nam An và đổi tên thành Chứng khoán Shinhan Việt Nam (NASC). Tháng 11/2017, NĐT Hàn Quốc thâu tóm cổ phần Chứng khoán Woori CBV, sau đó đổi tên thành Chứng khoán NH Việt Nam.
Cũng trong năm 2017, KB Securities hoàn thành thương vụ mua lại 99,4% vốn của Chứng khoán Maritime (MSI), sau đó đổi tên thành Chứng khoán KB Việt Nam. Tháng 5/2019, Chứng khoán và Đầu tư Hanwha (Hàn Quốc) hoàn tất thương vụ mua 90,05% cổ phần tại CTCP Chứng khoán HFT, đổi tên thành Chứng khoán Pinetree.
Không chỉ áp đảo về số lượng, nhóm công ty chứng khoán Hàn Quốc có thể nói đã châm ngòi cho cuộc chiến bán lẻ trong ngành. Với tiềm lực tài chính mạnh mẽ từ tổ chức mẹ, các đại gia Hàn Quốc rót thêm hàng nghìn tỷ đồng tăng vốn điều lệ, đưa quy mô vốn vượt mặt các tổ chức nội. Không chỉ tăng vốn, các tổ chức này còn nhận được tài trợ thông qua nguồn tiền từ cho vay và trái phiếu để đẩy quy mô cho vay ký quỹ (margin) lên top đầu thị trường.
Chưa hết, song hành với chính sách margin dồi dào, nhóm công ty chứng khoán Hàn Quốc tung chính sách miễn phí giao dịch (zerofee) tạo ra áp lực cạnh tranh lớn lên ngành chứng khoán và kéo dài cho đến hiện tại.
Thời kỳ ngân hàng hậu thuẫn công ty chứng khoán trở lại
Trong khi nhóm tổ chức nội đang gồng mình trước sức ép cạnh tranh, chỉ một số ít đơn vị duy trì vị thế nhờ những lợi thế bán lẻ thiết lập trước đó như SSI, VNDirect, HSC, số khác dần “mất mình” trong chặng cạnh tranh bán lẻ và mất dần thị phần.
Tuy nhiên, khi quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng mạnh sau khi dịch Covid-19 nổ ra, “chiếc bánh ngọt” đã lọt vào mắt của những ngân hàng. Thời kỳ các công ty chứng khoán được hậu thuẫn vốn từ ngân hàng trở lại song không còn giống giai đoạn trước.
Nếu như trong giai đoạn đầu, khối công ty chứng khoán thuộc ngân hàng quốc doanh “sinh ra ở vạch đích”như Agriseco, BSC, VietinBank Securities, VCBS. Ở thời kỳ này, lợi thế lại thuộc về nhóm công ty chứng khoán nằm trong hệ sinh thái của ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân như TCBS (Techcombank), VPBankS (VPBank), Kafi (VIB), TPS (TPB), ACBS (ACB), LPBS (LPBank), SHS (SHB), DSC (PGBank), HDS (HDBank).
Cơ chế tăng vốn dễ dàng giúp các công ty chứng khoán dễ dàng nâng quy mô vốn thêm hàng nghìn tỷ đồng và những đợt tăng liên tiếp diễn ra. Tiêu biểu nhất là thương vụ Chứng khoán VPBank (VPBankS) tăng vốn lên 15.000 tỷ đồng, đứng thứ hai thị trường chỉ sau hai năm mua lại Chứng khoán ASC.
Sự vươn lên của nhóm công ty chứng khoán thuộc các ngân hàng giúp nhóm công ty chứng khoán nội dần lấy lại vị thế và có phần áp đảo. Top 10 đơn vị dẫn đầu về quy mô vốn điều lệ không còn tổ chức nước ngoài.
Việc tăng vốn điều lệ đã làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu vay ký quỹ của thị trường, đồng thời giải quyết bài toán đầu tư lớn hơn vào các sản phẩm trái phiếu, giấy tờ có giá của các công ty chứng khoán. Hơn nữa, lợi thế vốn còn giúp các tổ chức này còn gia tăng sức cạnh tranh trong nghiệp vụ bán lẻ, phà hơi nóng lên các tổ chức dẫn đầu.
Thậm chí, không quá khi nói rằng các công ty chứng khoán đang bị “ngân hàng hóa” bởi mảng cho vay đóng vai trò trọng yếu và ngày càng gia tăng vị thế trong cơ cấu doanh thu khi phí môi giới đang bị co hẹp do cạnh tranh.
Rõ nét nhất là trường hợp TCBS liên tục gia tăng thị phần, vượt qua nhiều ông lớn để vươn lên Top 3 với mô hình phát triển dựa trên nền tảng công nghệ, không sử dụng môi giới. Công ty này đang là tổ chức dẫn đầu về dư nợ margin.
Sự nổi lên của những cái tên mới
Tuy vậy, “ngựa ô” TCBS chưa phải là cái tên nổi bật nhất trong 5 năm trở lại đây. Thương vụ kinh điển nhất của ngành chứng khoán phải kể đến VPS. Sau khi mua lại từ VPBank, ông Nguyễn Lâm Dũng và các cộng sự đã cơ cấu và đưa VPS trở thành đơn vị thống trị cả 4 bảng xếp hạng về thị phần môi giới với tỷ lệ áp đảo.
Khác với hai nhóm vừa nêu trên, VPS là đại diện tiêu biểu cho làn sóng gia nhập nhóm tư nhân, đan xen vào các thương vụ lớn của hai làn sóng nêu trên.
Cùng với VPS, nhiều công ty chứng khoán đã đổi chủ về tay những cá nhân, đây là những người từng kinh qua vị trí lãnh đạo ở cấp trung và cao trong các công ty chứng khoán. Trong số này có thể kể đến là DNSE của ông Nguyễn Hoàng Giang, Chứng khoán Saigonbank Berjaya của bà Nguyễn Thị Hương Giang. Gần đây nhất là thương vụ liên quan giữa Chứng khoán Hải Phòng và ông Vũ Hoàng Việt – một cộng sự cũ của ông Nguyễn Hoàng Giang tại VNDirect.
Hoạt động M&A ngành chứng khoán vẫn chưa dừng lại. Với nhu cầu huy động vốn và thực hiện các thương vụ trong hệ sinh thái, nhiều tập đoàn tư nhân đã mua lại công ty chứng khoán trong những năm gần đây như Thành Công, Sunshine Group, Amber Holdings, Tân Hoàng Minh, Thai Group, Xuân Thiện… Những fintech như Momo, Finhay cũng phải sắm cho mình một công ty chứng khoán để hoàn thiện hệ sinh thái.
Theo chiều hướng phát triển của thị trường cả về chiều rộng và chiều sâu khi mục tiêu nâng hạng trở thành hiện thực, nhu cầu đầu tư khi tầng lớp trung lưu lớn dần hay nhu cầu quy động vốn của nền kinh tế ngày một gia tăng, hoạt động M&A của ngành chứng khoán được dự báo tiếp tục sôi động. Những câu chuyện thú vị, những mô hình kinh doanh mới có thể sẽ được kể trong chặng đường mới mang tên nâng hạng.



