FED và Quyền lực tối thượng tới toàn thế giới

FED – Cục dự trữ liên bang Mỹ

A – Lịch sử hình thành

Trong khoảng thời gian từ 1862 đến 1913, hệ thống ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ được hình thành theo Đạo luật Ngân hàng quốc gia 1863. Một loạt các biến động trong lĩnh vực ngân hàng ở Hoa Kỳ vào các năm 1873, 1893 và 1907 cho thấy một hệ thống ngân hàng trung ương là cần thiết để điều phối thị trường.

Sau cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng năm 1907, Quốc hội Hoa Kỳ thành lập “Ủy ban tiền tệ quốc gia” với nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cải cách hệ thống ngân hàng.

Nelson Aldrich – người đứng đầu đảng Cộng hòa ở quốc hội đồng thời là chuyên gia tài chính, được chỉ định là Chủ tịch Ủy ban. Ông chỉ đạo một cuộc khảo sát tường tận các ngân hàng trung ương Châu Âu và nhận thấy rằng Anh và Đức là hai nước có các ngân hàng trung ương ưu việt hơn hẳn.

Năm 1910, Nelson Aldrich tìm kiếm sự giúp đỡ từ các ngân hàng hàng đầu của Hoa Kỳ với mong muốn dự thảo một kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng cho Hoa Kỳ một hệ thống tài chính tiên tiến như của Anh và Đức. Ông cùng các chuyên viên đại diện của các định chế tài chính lớn khi đó là J.P. Morgan, Rockefeller, và Kuhn, Loeb và Công ty, dành riêng một tuần thảo luận tại đảo Jekyll (ngoài khơi bang Georgia).

Đại diện của Kuhn, Loeb và Công ty là Paul Warburg (chuyên gia tài chính gốc Đức) chủ trì việc xác lập những ý cơ bản của Đạo luật Dự trữ liên bang. Aldrich sau đó giới thiệu kế hoạch của ông về ngân hàng trung ương với tên “dự luật Aldrich”, đề xuất thành lập “Tổ chức Dự trữ liên bang” (Federal Reserve Association).

Dự luật này trở thành một phần trong chính sách của đảng Cộng hòa ở Quốc hội nhưng không được phê chuẩn năm 1911 khi đa số quốc hội thuộc về đảng Dân chủ.

Ngày 23/12/1913, “Đạo luật dự trữ liên bang” được Quốc hội Mỹ thông qua và Tổng thống Woodrow Wilson phê chuẩn. Theo đó, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve System – FED) được thành lập. FED chính thức hoạt động vào năm 1915.

FED - Cục dự trữ liên bang Mỹ và tầm ảnh hưởng tới thế giới
FED – Cục dự trữ liên bang Mỹ và tầm ảnh hưởng tới thế giới

Trụ sở chính tại Washington, FED được xem là ngân hàng trung ương của chính phủ Mỹ với bộ máy gồm: Hội đồng thống đốc gồm 7 thành viên, trong đó Chủ tịch FED (nhiệm kỳ là 4 năm) được chỉ định bởi Tổng thống nhưng phải được Thượng viện thông qua.

Các thành viên của Hội đồng thống đốc đóng vai trò đa số trong Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC). FED có mạng lưới gồm12 ngân hàng.

Các ngân hàng này được đặt ở Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas và San Francisco, trong đó vai trò của ngân hàng New York được xem là quan trọng hơn.

Điểm qua quyền lực tối cao của FED

Theo Điều 8 Chương 1 của Hiến pháp Mỹ quy định, Quốc hội chịu trách nhiệm phụ trách việc quản lý phát hành tiền tệ, nhưng dự luật này sau đó được điều chỉnh với hình thức sự phân quyền và cân bằng kiểm soát của Hiến pháp Mỹ. Hội đồng thống đốc của FED là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang. Hội đồng không chịu sự can thiệp của Quốc hội, các thành viên của hội đồng được quyền miễn yêu cầu của lập pháp và hành pháp, nhưng phải gửi báo cáo tới Quốc hội theo định kỳ.

FED có quyền lực đặc biệt là in tiền. FED có thể in tiền để giải cứu các cá nhân, tổ chức có thể làm ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ hoặc thế giới.

Với vai trò là đồng tiền pháp định, USD không bị ràng buộc (neo) vào bất cứ thứ gì (USD neo vào vàng kết thúc từ năm 1971). Tiền do FED phát hành là nguồn cung tiền tệ, được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.

Theo Hội đồng thống đốc, FED có các nhiệm vụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa hóa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn, duy trì sự ổn định nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính, cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản, các tổ chức tài chính nước ngoài và chính phủ Mỹ, đảm bảo vai trò trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia, giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn.

Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường. Để bình ổn thị trường tiền tệ, FED thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng. FED kiểm soát nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động thị trường, FED mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, các tài sản có giá trị. Tất cả hoạt động thị trường của FED ở Mỹ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực New York.

Để đảm bảo những thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời, bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiên. Các giao dịch mua bán này chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn và được đảm bảo từ FED.

Fed sẽ chuyển tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp (là giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, tài sản có giá trị tương ứng). Thời hạn giao dịch từ 1 ngày tới 65 ngày (theo thỏa thuận), nhưng phần lớn là cho vay qua đêm và 14 ngày. Khi hết hạn giao dịch, FED hoàn lại chứng khoán và nhận lại tiền vốn cùng với lợi nhuận từ lãi suất.

Trong giao dịch thỏa thuận bán lại (reverse repo), FED sẽ vay tiền từ các người giao dịch ưu tiên bằng cách đặt cọc chứng khoán chính phủ. Khi giao dịch đáo hạn, FED sẽ hoàn trả tiền và các khoản lãi. Bên cạnh đó là giao dịch mua đứt, ở giao dịch này, FED mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấp tiền vào tài khoản của người giao dịch đặt tại FED. Vì hoạt động mua đứt nên tăng cung ứng tiền lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạn khoản lãi vẫn được thu, thường là 12 – 18 tháng.

FED mua trái phiếu chính phủ nhằm mục đích tạo sự thanh khoản trong lưu thông tiền tệ. Lãi suất giảm xuống tạo điều kiện cho chi tiêu, vay gia tăng. Tương tự, khi FED bán ra trái phiếu chính phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại. Về quy định lượng tiền mặt dự trữ, nếu FED đề nghị các ngân hàng phải dự trữ một lượng tiền đủ theo yêu cầu của FED, khi đó phần cho vay sẽ giảm đi, như thế lãi suất tăng lên và ngược lãi. Các ngân hàng thành viên của FED được quyền vay tiền từ FED để trang trải các nhu cầu ngắn hạn. Lãi suất này gọi là lãi suất chiết khấu (discounted rate).

Lãi suất mà FED công bố thực chất không phải là lãi suất cơ bản (prime rate) mà là fed funds rate. FED công bố mức lãi suất điều hoà vốn dự trữ trong mỗi thời kỳ (fed funds target rate), thông qua đó FED thực hiện điều hành chính sách tiền tệ. Fed funds rate theo qui định (7 tuần/1 lần và có thể bất thường nếu cần thiết) được đưa ra bởi FOMC. FED dùng các công cụ thị trường mở hướng fed funds rate theo lãi suất mục tiêu giúp đảm bảo phù hợp với tỷ lệ tăng trưởng GDP ổn định ở một mức tương ứng.

Vậy, bên cạnh discounted rate thì fed funds target rate là công cụ thứ hai giúp FED điều hành chính sách tiền tệ. So với prime rate thì fed funds rate thấp hơn. Nếu FED công bố mức lãi suất là 0,25% thì lãi suất cơ bản của các ngân hàng sẽ là từ 3 – 3,5%, và do đó lãi suất thực trên thị trường tín dụng sẽ ở mức trên 3,5%.

FED ấn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ % số tiền ký gửi tại ngân hàng mà ngân hàng giữ lại hoặc gửi tại FED để duy trì hoạt động như chi trả cho khách hàng và các chi phí thường ngày. Quy định này trực tiếp giới hạn khả năng cho vay của các ngân hàng. Trong trường hợp khoản dự trữ này tụt xuống, ngân hàng phải tiến hành vay lẫn nhau hoặc vay của FED để đảm bảo tỷ lệ dự trữ.

Với lịch sử hơn 100 năm hình thành và phát triển cùng nước Mỹ, FED ngày càng chứng minh được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ, các quyết định được đưa ra tại đây có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế Mỹ và thế giới.


B – FED ảnh hưởng tới toàn bộ thế giới tài chính

Hệ thống Dự trữ Liên bang được xem là ngân hàng trung ương của Mỹ. Là một trong những đồng tiền chủ chốt của thế giới, mà FED với chính sách điều chỉnh lãi suất và các chính sách tiền tệ, do đó FED sẽ có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến đồng bạc xanh này.

Và hơn thế nữa, Đô la Mỹ là đồng tiền dự trữ quốc tế và là tiền tệ thanh toán chính trong giao dịch thương mại quốc tế.

Cấu trúc hệ thống Dự trữ Liên bang

Để hiểu cách thức hoạt động của Fed, chúng ta phải biết về cấu trúc của nó.
Để hiểu cách thức hoạt động của Fed, chúng ta phải biết về cấu trúc của nó.
Hệ thống Dự trữ Liên bang có 3 thành phần:
  • Hội đồng thống đốc: Là bộ phận chỉ đạo chính sách tiền tệ, gồm 7 thành viên chịu trách nhiệm thiết lập lãi suất chiết khấu và yêu cầu dự trữ cho các ngân hàng thành viên. Các nhà kinh tế sẽ cung cấp tất cả các phân tích, bao gồm Beigh Book (bản báo cáo của Fed) hàng tháng và Báo cáo tiền tệ nửa năm đến Quốc hội.
  • Các ngân hàng Dự trữ Liên bang: Là bộ phận làm việc với hội đồng quản trị để giám sát các ngân hàng thương mại và để thực hiện chính sách.
  • Ủy ban Thị trường mở Liên bang: FOMC giám sát các hoạt động thị trường mở, bao gồm việc đặt mục tiêu cho lãi suất quỹ liên bang (fed funds rate). Bảy thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và bốn trong số 11 ngân hàng còn lại là thành viên của FOMC. FOMC sẽ họp 8 lần một năm.

Note: Khi tờ Đô la Mỹ được in ấn và phát hành, nếu tờ Đô la Mỹ phát hành bởi ngân hàng khu vực nào sẽ có kí hiệu của ngân hàng khu vực đó.

Chức năng của Cục Dự trữ Liên bang là gì?

Cục Dự trữ Liên bang đảm nhiệm 4 chức năng. Chức năng quan trọng và hữu hình nhất là quản lý lạm phát và duy trì giá cả ổn định. Họ đạt mục tiêu lạm phát 2% là tỷ lệ lạm phát cốt lõi.

Thứ hai, Fed giám sát và điều tiết nhiều ngân hàng quốc gia để bảo vệ người tiêu dùng. Thứ ba, Fed duy trì sự ổn định của thị trường tài chính và hạn chế các cuộc khủng hoảng tiềm năng. Thứ tư, Fed cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các ngân hàng khác, cho chính phủ Hoa Kỳ và các ngân hàng nước ngoài.

Fed thực hiện các chức năng của mình bằng cách triển khai các chính sách tiền tệ. Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế lành mạnh, tức là theo đuổi tốc độ tăng trưởng GDP 2-3% và tối đa hoá việc làm với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên từ 4,7% đến 5,8%.

1. Quản lý lạm phát

Fed-la-gi-Vi-sao-Fed-quyen-luc-TraderViet2.

Fed kiểm soát lạm phát bằng cách quản lý tín dụng – thành phần lớn nhất của cung tiền. Đây là lý do tại sao mọi người lại nói Fed in tiền. Fed sẽ kiểm duyệt lãi suất dài hạn thông qua các hoạt động thị trường mở và lãi suất quỹ liên bang.

Khi không có rủi ro lạm phát, Fed sẽ khiến tín dụng trở nên rẻ bằng cách hạ lãi suất. Điều này làm tăng thanh khoản và thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh, cuối cùng sẽ giảm tỷ lệ thất nghiệp. Fed giám sát lạm phát thông qua tỷ lệ lạm phát cốt lõi, được đo lường bằng Chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (CPI).

Chính sách mở rộng sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và tạo ra việc la,f. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế tăng trưởng quá nhiều, nó sẽ kích hoạt lạm phát. Khi đó, Fed sẽ tăng lãi suất cho vay như là một phần của chính sách tiền tệ co thắt. Lãi suất cao khiến việc đi vay trở nên đắt đỏ hơn, các doanh nghiệp cũng ít có xu hướng tăng giá hơn.

Fed có nhiều công cụ quyền lực theo ý của mình. Fed đặt ra yêu cầu dự trữ cho các ngân hàng của quốc gia, cho biết bao nhiêu phần trăm tiền gửi mà họ phải thực sự có trong tay mỗi đêm. Phần còn lại có thể được cho vay.

Nếu một ngân hàng không có đủ tiền mặt vào cuối ngày, họ sẽ đi vay khoản tiền thiếu hụt từ các ngân hàng khác. Các khoản tiền họ vay còn được biết đến là “fed funds”. Các ngân hàng sẽ dùng “fed funds rate” (lãi suất quỹ liên bang) để tính cho các khoản nợ này.

FOMC đặt mục tiêu cho lãi suất quỹ liên bang tại các cuộc họp hàng tháng của mình. Để giữ cho lãi suất gần mức mục tiêu, Fed sẽ sử dụng các hoạt động thị trường mở để mua hoặc bán trái phiếu từ các ngân hàng thành viên của mình.

Điều này sẽ tạo ra tín dụng ngoài luồng và có tác dụng tương tự như in tiền. Nó sẽ giúp thêm vào dự trữ mà các ngân hàng có thể cho vay và dẫn đến việc hạ lãi suất cho vay. Kiến thức về lãi suất quỹ liên bang hiện hành là rất quan trọng vì lãi suất này là một mức chuẩn benchmark trong thị trường tài chính.

2. Giám sát hệ thống ngân hàng

Fed-la-gi-Vi-sao-Fed-quyen-luc-TraderViet3.

Fed giám sát khoảng 5.000 công ty nắm giữ, 850 thành viên ngân hàng nhà nước của Hệ thống Ngân hàng Dự trữ Liên bang và bất kỳ ngân hàng nước ngoài nào hoạt động tại Hệ thông Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại Hoa Kỳ – một mạng lưới gồm 12 ngân hàng Dự trữ Liên bang vừa giám sát và phục vụ như ngân hàng cho tất cả các ngân hàng thương mại trong khu vực.

12 ngân hàng được đặt tại Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas và San Francisco. Ngân hàng Dự trữ phục vụ như một Kho bạc của Hoa Kỳ bằng cách xử lý các khoản thanh toán, bán trái phiếu của chính phủ và hỗ trợ các hoạt động đầu tư, quản lý tiền mặt. Các ngân hàng dự trữ cũng tiến hành những nghiên cứu có giá trị về các vấn đề kinh tế.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Đạo luật Cải cách Phố Wall của Dodd-Frank đã củng cố quyền lực của Fed đối với các ngân hàng. Dodd-Frank cho biết nếu bất kỳ ngân hàng nào rơi vào tình trạng “too big to fail” (quá lớn để sụp đổ), thì nó có thể được chuyển sang giám sát của Cục Dự trữ Liên bang và yêu cầu phải có một khoản dự trữ lớn hơn để bảo vệ trước thua lỗ.

Trên thực tế, Fed đã được giao nhiệm vụ giám sát “các tổ chức quan trọng một cách có hệ thống” và năm 2015, họ đã tạo ra Ủy ban Điều phối Giám sát Tổ chức lớn. Ủy ban này quản lý 16 ngân hàng lớn nhất và quan trọng nhất là chịu trách nhiệm về việc kiểm tra stress của 31 ngân hàng. Các bài test này xác định xem liệu các ngân hàng có đủ vốn để tiếp tục cho vay ngay cả khi hệ thống sụp đổ.

Luật Tăng trưởng Kinh tế, Cứu trợ theo quy định, và Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng đã khôi phục một số quy tắc cho các ngân hàng nhỏ. Fed không thể chỉ định các ngân hàng này là thuộc loại “too big to fail” và do đó, họ không cần phải giữ nhiều tài sản để dự phòng trước khủng hoảng tiền mặt.

3. Duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính

Cục Dự trữ Liên bang đã hợp tác chặt chẽ với Bộ Tài chính để ngăn chặn sự sụp đổ tài chính toàn cầu trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Họ đã tạo ra nhiều công cụ mới, bao gồm Term Auction Facility (chương trình đấu giá cho vay kỳ hạn), Money Market Investor Funding Facility (chương trình tài trợ cho nhà đầu tư thị trường tiền tệ) và Quantiative Easing (chương trình nới lỏng định lượng).

4. Cung cấp dịch vụ ngân hàng

Khi Fed mua Trái phiếu Kho bạc từ chính phủ liên bang thì tức là họ đang phát hành tiền từ các khoản vay. Fed tạo ra tiền bằng số tiền mà họ sử dụng để mua Trái phiếu Kho bạc, giúp nguồn cung tiền gia tăng. Trong 10 năm qua, Fed đã mua được 4 nghìn tỷ đô la Trái phiếu Kho bạc.

Fed-la-gi-Vi-sao-Fed-quyen-luc-TraderViet4.

Fed được gọi là “ngân hàng của các ngân hàng”. Bởi lẽ, mỗi ngân hàng dự trữ đều phải lưu trữ tiền, thực hiện các khoản vay cho các thành viên của mình để đáp ứng các yêu cầu dự trữ của họ khi cần thiết. Các khoản vay này được thực hiện thông qua “discount window” và được tính theo mức lãi suất chiết khấu, một mục tiêu trong cuộc họp của FOMC.

Lãi suất này thấp hơn lãi suất quỹ liên bang và Libor (lãi suất thả nổi). Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng thường tránh sử dụng “discount window” vì họ không thể vay vốn từ các ngân hàng khác. Đó là lý do tại sao Fed được gọi là người cho vay cuối cùng.

Vậy Fed ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào?

Cục Dự trữ Liên bang là nơi để chúng ta tìm ra manh mối về cách thức nền kinh tế hoạt động, cũng như những gì FOMC và Hội đồng Thống đốc dự định thực hiện.

FED có thể gián tiếp kiểm soát thị trường thế giới

Vì đồng tiền này chiếm vị trí chi phối trong hệ thống tiền tệ quốc tế, nên hầu hết các mặt hàng quan trọng trên thị trường thế giới như dầu mỏ, vàng,… đều được định giá bằng USD.

FED có khả năng kiểm soát đồng USD nên khả năng kiểm soát thị trường toàn cầu.
FED có khả năng kiểm soát đồng USD nên khả năng kiểm soát thị trường toàn cầu.

Vì thế nên Cục dự trữ liên bang –  FED là cơ quan kiểm soát đồng USD nên có khả năng gián tiếp kiểm soát thị trường toàn cầu.

Hầu như mọi quyết định của FED là gì đi chăng nữa thì đối với đồng Đô la và kinh tế Mỹ đều tác động ít nhiều đến kinh tế thế giới.

Ví dụ: Để giải quyết khủng hoảng 2008, các gói kích thích kinh tế QE của FED bơm tiền vào thị trường hàng nghìn tỉ Đô la, một mặt nó giúp ổn định tình hình tín dụng ở Mỹ, mặt khác làm đồng Đô la mất giá nghiêm trọng. Khi đó giá vàng thế giới tăng cao, cùng giá các loại hàng hóa khác cũng tăng cao khiến nhiều nước rơi vào tình trạng khó khăn.

Ngoài ra, kho dự trữ của FED còn là nơi tập trung tiền và vàng nhiều nhất thế giới. Ngân hàng New York (số 33 Liberty) dự trữ 25% lượng vàng trên thế giới, hầu hết là vàng của nước ngoài gửi.

Fed ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu, trái phiếu và lãi suất cho vay trên thị trường. Bằng cách ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách trực tiếp, Fed cũng gián tiếp ảnh hưởng đến giá trị ngôi nhà và thậm chí là cơ hội bị sa thải hay về hưu của bạn luôn đấy!

Bạn đã thấy Fed đủ quyền lực chưa nào?


C – Chủ tịch FED là người quyền lực nhất hành tinh

Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), cơ quan được coi là Ngân hàng Trung ương của nền kinh tế lớn nhất thế giới với đầy đủ khả năng chi phối đời sống kinh tế toàn cầu.

Dòng chữ “Tiền của Cục dự trữ liên bang” trên những tờ dollar Mỹ đủ nói lên rằng: FED kiểm soát nguồn cung đồng tiền có sức mạnh nhất thế giới. Độc lập với Chính phủ Mỹ, FED có quyền ban hành và thực hiện chính sách tiền tệ. Lãi suất ngắn hạn mà FED công bố có khả năng điều chỉnh lạm phát, thất nghiệp, sức mạnh của đồng dollar cũng như việc bạn có bao nhiêu tiền trong ví.

MBAz.Net - Blog chuyên về MBA

Tải Ngay: USB 80 Audio Book sách nói kinh điển hay nhất mọi thời đại.

Tặng 80 cuốn sách nói hay nhất mọi thời đại

HOSTING siêu tốc NÊN dùng. Blog MBAz.Net cũng đang dùng!

Khuyến mãi hosting siêu tốc

3 thoughts on “FED và Quyền lực tối thượng tới toàn thế giới

  1. Hầu hết mọi người đều nghĩ FED là một cơ quan nhà nước nhưng thật ra FED vừa là tư nhân, vừa là nhà nước.

    1. Các ngân hàng dự trữ:

    FED bao gồm 12 ngân hàng và 25 chi nhánh ở khắp nước Mỹ nên nó là một hệ thống ngân hàng trung ương tư nhân. Mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò “nổi bật hơn một chút”so với các ngân hàng còn lại. Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của chính quyền liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của chính quyền liên bang theo một số mục đích nhất định. Trong một phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa Hội đồng thống đốc và các Ngân hàng được quy định rõ ràng. Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường. Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.

    2. Các ngân hàng thành viên:

    Tất cả các ngân hàng đều là thành viên của FED, phải tuân thủ mức dự trữ bắt buộc, được vay tiền từ FED, được thanh toán bù trừ tại FED, chịu sự giám sát về các hoạt động bởi FED.

    3. Hội đồng thống đốc:

    Lãnh đạo FED là Hội đồng thống đốc gồm có 7 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. 7 thành viên của Ban thống đốc đóng vai trò như là đa số trong Uỷ ban thị trường mở Hoa Kì, là cơ quan quyết định các chính sách tiền tệ của Mỹ. Nhiệm kì của mỗi thành viên Hội đồng thống đốc kéo dài 14 năm, và các thành viên chỉ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của ông ta không phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Hội đồng ấn định mức dự trữ bắt buộc và kiểm soát lái suất tái chiết khấu.

    4. Ủy ban thị trường tự do liên bang(FOMC):

    Ủy ban bao gồm 7 thành viên của Hội đồng thống đốc, chủ tịch ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và các chủ tịch của 4 ngân hàng Dự trữ Liên bang khác thường xuyên tiến hành việc chỉ đạo các nghiệp vụ thị trường tự do. Vì các nghiệp vụ thị trường tự do là một công cụ quan trọng của FED để kiểm soát cung ứng tiền tệ nên FOMC là tiêu điểm cho việc hoạch định chính sách cuả hệ thống Dự trữ Liên bang.

    Nhìn bề ngoài cơ cấu phức tạp của FED, hẳn không phải ai cũng đặt ra câu hỏi là ai thực sự nắm giữ FED. Theo Eustace Mullins, tác giả của cuốn sách “Bí mật của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ” – Secrets of Federal Reserve thì Ngân hàng New York là ngân hàng “khống chế thực tế” của hệ thống Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

    Tuy nhiên Ban Thống Đốc của FED vẫn “chịu sự thao túng” của các nhà tài phiệt, vì vấn đề ở chỗ bên cạnh sự tồn tại của Hội đồng Thống Đốc còn có Hội đồng tư vấn Liên bang. Hội đồng tư vấn liên bang này do 12 đại diện của các ngân hàng địa phương thuộc cục dự trữ Liên bang, có quyền bỏ phiếu như nhau khi thông qua các quyết định. Chính Hội đồng tư vấn Liên bang này là người đề xuất các kiến nghị chinh sách tiền tệ cho Hội đồng thống đốc. Bề ngoài là công bằng, khách quan nhưng không ai đảm bảo ràng quyền của ngân hàng nhỏ ở Dallas có quyền ngan hàng với ngân hàng ở New York mà ngân hàng ở New York thì luôn là đại diện cho các nhà tài phiệt phố Wall. Vậy thì ai thực sự nắm giữ FED hẳn đã rõ đến 99% là các nhà tài phiệt phố Wall – nhưng cụ thể họ là ai thì chưa ai xác định rõ, họ vẫn đứng đằng sau tấm rèm chỉ đạo các hoạt động của FED.

  2. Có hai điều liên quan tới FED mà khiến cho người ta sửng sốt nếu lần đầu tiên tìm hiểu về FED đó là cách FED tạo tiền và chính sách tiền tệ của FED.

    1. Cách thức FED tạo ra tiền

    Tạm thời không bàn luận đến việc bằng các nào mà một hệ thống ngân hàng tư nhân như FED lại có quyền phát hành tiền tệ, ta sẽ đi sâu tìm hiểu cách thức mà đồng đôla Mỹ được tạo ra và đi vào lưu thông. Quy trình tạo ra tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ không hề phức tạp nhưng cũng chẳng đơn giản để bất kỳ ai cũng hiểu được. Nó không khác gì nhiều so với các Ngân hàng Trung ương khác nhưng bản chất của nó thì lại hoàn toàn khác biệt, cả một “âm mưu sâu sắc” và “sự nực cười bất ngờ”.

    Chắc hẳn bạn sẽ ngạc nhiên nếu biết FED tạo ra tiền từ “hư không”, kèm theo nó một lãi suất vô lý, một loại thuế bí ẩn mang tên lạm phát tiền tệ, và chu trình bủng nổ – boom-bust period.

    Phải có nợ thì mới tạo ra được tiền hay không có vay mượn thì không tạo ra được tiền. Chính hành động vay mượn đã tạo ra tiền! Một khi trả hết nợ thì tiền cũng biến mất. Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ tạo ra tiền cũng giống như các thợ vàng trước đây chỉ có điều các thợ vàng trước kia có dự trự lại lượng vàng để đảm bảo cho các giấy chứng nhận quyền sở hữu vàng thì FED chẳng có gì, hay nói chính xác hơn là họ có một kho vàng khổng lồ Fort Knox nhưng lại bé xíu so lượng tiền họ phát hành ra. Cái mà FED dự trữ chỉ toàn là giấy nợ, là trái phiếu chính phủ, và các loại giấy nhận nợ khác, tất cả chỉ là tài sản vô hình. Nhìn vào bảng tổng kết tài sản của Mỹ thì chỉ thấy giấy nợ, hầu hết là giấy nợ. Và chỉ bằng các giấy nợ đấy, FED thỏa sức in tiền trong khi họ chẳng có gì ngoài một đống giấy tờ ghi nợ; ngân hàng thông qua “tiền tệ hóa” các khoản nợ để tạo ra tiền. Mà tiền thì cũng là một loại giấy nợ mà thôi, kết quả là ở đâu cũng nhan nhản tiền, nhan nhản nợ!

    Tuyệt đại đa số người Mỹ hoàn toàn không thể hiểu được chính xác phương thức vận hành của các thể chế cho vay quốc tế. Sổ sách của cục dự trữ liên bang Mỹ vốn dĩ chưa từng được kiểm tra. Nó hoàn toàn được vận hành bên ngoài phạm vi khống chế của quốc hội, và nó đang thao túng cung ứng nguồn tín dụng của nước Mỹ.
    a. Quy trình, cách thức:

    Do chính phủ trao quyền phát hành tiền tệ cho Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ nên chính phủ Mỹ chỉ huy động được tiền từ việc Bộ tài chính phát hành chứng khoán (trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc).
    Nếu lượng công trái bán ra không được người dân mua hết thì chính phủ gom lại và đem thế chấp cho Cục Dự trữ Liên bang Mỹ để có thể phát hành tiền tệ thông qua Cục Dự trữ Liên bang Mỹ hoặc chính phủ Mỹ chi tiêu và trả bằng trái khoán, sau đó FED sẽ mua lại trên thị trường tự do. Lúc này trên bảng cân đối tài sản của FED sẽ có tài sản chứng khoán ở bên tài sản có (là chủ yếu) còn bên tài sản nợ là tiền giấy của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đang lưu thông (là chủ yếu). Các quốc gia khác cũng nắm giữ một lượng không nhỏ công trái của chính phủ Mỹ. Nếu đã là công trái thì ắt hẳn phải có lãi suất và đến kỳ phải trả lãi, cuối kỳ hoàn trả gốc. Vậy chính phủ Mỹ lấy tài sản gì để đảm bảo cho khoản vay này, đặc biệt khi họ không có quyền in tiền như các ngân hàng Trung ương khác? Quyền lực và tiền bạc luôn đi kèm với nhau, ở đây chính phủ Mỹ có một tài sản thế chấp tuyệt vời, một tài sản đảm bảo an toàn cao nhất – tiền thu thuế trong tương lai của người dân Mỹ. Dù cho nó có là khoản tiền thu về trong tương lai thì nó vẫn được đảm bảo chắc chắn bằng quyền thu thuế của người dân. Nếu nước Mỹ tồn tài vĩnh viễn thì chẳng bao giờ có chuyện chính phủ Mỹ lại vỡ nợ! Trong khi đó Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã biến không thành có, một quy trình tài tình! Ngay khi chính phủ tiêu tiền, lượng tiền này được người nhận tiền gửi vào hệ thống các ngân hàng thương mại, lúc này tiền đôla thể hiện vai trò kép của mình. Thứ nhất nó đóng vai trò là tiền tiết kiệm gửi trong ngân hàng, quyền sở hữu của nó thuộc về người gửi, họ có thể rút ra bất cứ lúc nào. Còn vai trò thứ hai mới là điều quan trọng, giờ đây nó là vốn của ngân hàng và ngân hàng có toàn quyền sử dụng chúng để đem cho vay. Quá trình tiếp theo diễn ra ở các ngân hàng thương mại hẳn ai học kinh tế cũng sẽ hiểu, lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng vọt theo cách mà các nhà kinh tế học vẫn tính MS=MB*m. Chẳng những sáng tạo ra MB mà FED cùng hệ thống các ngân hàng thương mại còn tạo ra hệ số nhân tiền – vấn đề nảy sinh thêm là chỉ với khoản dự trữ bắt buộc (10% tiền gửi chẳng hạn), các ngân hàng lại có thể đem tiền đi cho vay.

    “Đồng đôla không thể hoán đổi thành vàng hay bất cứ tài sản nào khác của Bộ Tài chính. Nó không mang ý nghĩa thực tế mà chỉ có tác dụng ghi nợ.”

    Nhìn qua thì mọi thứ đều được đảm bảo an toàn, thật đơn giản và dễ hiểu nhưng nếu rọi ánh sáng vào hơn chút nữa ta sẽ nhìn ra hơn vấn đề. Chính phủ Mỹ có quyền thu thuế nhưng không có quyền đem tiền thuế của dân để thế chấp mà vay với lãi suất cao như vậy. Nó có nghĩa là của cải của người dân, sức lực lao động và cả tương lai thế hệ người dân Mỹ đã bị đem ra làm vật thế chấp cho một số ít người. Sự vô lý càng thể hiện rõ ở chỗ họ phải bỏ ra mồ hôi, nước mắt, thành quả lao động của mình cho một số ít người – những người hầu như không cần làm gì mà lại có khoản tiền lãi khổng lồ để hưởng. Mỹ – quốc gia vốn rất tự hào cho mình là quốc gia dân chủ hàng đầu thế giới lại có sự bất công lớn đến như vậy tồn tại gần 100 năm. Có thể khẳng định chắc chắn rằng không thể xem nhẹ việc Chính phủ trực tiếp phát hành tiền với việc để ngân hàng phát hành tiền. Chính phủ không thể hoàn trả các khoản nợ đã vay nếu như họ không xóa bỏ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Năm 2006, tổng vay của chính phủ Mỹ lên đến 860 nghìn tỷ đôla, vậy thì bao giờ chính phủ mới trả được hết nợ gốc chứ chưa nói gì đến lãi.

    b. Kết quả:

    Cái vòng vay, nợ, vay, nợ rồi lại vay, nợ … đó cứ liên tục tiếp diễn và gánh nặng lên người dân càng ngày càng nhiều hơn, và song song với cái vòng vay nợ đó thì người dân Mỹ vẫn cứ nai lưng ra làm, sau vài chục năm nữa thôi, chắc con cháu họ đời đời không thể trả hết được nợ. Nói quả không sai chút nào.

    Với khoản nợ lên đến 50.000 tỷ đôla thì với lãi suất 5% mỗi nước Mỹ phải trả lãi 2500 tỷ đôla trong khi GDP của cả nước Mỹ là 13675 nghìn tỷ đôla thì nó đã chiếm tới gần 1/5 GDP nước Mỹ, tính ra mỗi người dân Mỹ phải gánh chịu 165.000 đôla và hàng năm trả lãi hơn 8.000 đôla. Đó là những con số thực, những con số không hề dễ chịu chút nào đối với người dân lao động Mỹ. Và cứ thế, các khoản thuế của người dân được chính phủ Mỹ lấy ra đảm bảo cho Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ lại tiếp tục phát hành tiền vào lưu thông. Chỉ cần dự trữ bắt buộc là 10% thì số tiền FED phát hành ra lưu thông sẽ có thể tăng tối đa lên gấp 10 lần. 1 đôla công trái biến thành 10 đôla trong lưu thông. Thuật ngữ hay công cụ mang tên “dự trữ bắt buộc” quả là một sản phẩm tuyệt vời của các nhà kinh tế, chỉ cần giữ lại 10% số tiền gửi là họ có thể nhân số tiền ban đầu lên 10 lần, và làm cho lạm phát trở nên phổ biến hơn. Chỉ cần thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc là họ có thể tác động đến mọi hoạt động kinh tế mà trong khi báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng lại luôn hô hào, ủng hộ cho khoản dự trữ bắt buộc để thi hành chính sách tiền tệ.

    Tôi tin chắc rằng, sự đe dọa của tổ chức ngân hàng đối với tự do của chúng ta còn nghiêm trọng hơn uy lực quân sự của kẻ thù. Họ đã tạo ra một tầng lớp quý tộc rủng rỉnh tiền bạc và coi thường chính phủ. Quyền phát hành tiền tệ phải được đoạt lại từ tay ngân hàng, nó phải thuộc về những người chủ thực sự của nó – nhân dân.
    Giả sử có một ngày nào đó chính phủ Mỹ thu hồi hết đôla trên thị trường để trả cho Cục dự trữ Liên bang Mỹ thì nó cũng chỉ là phần gốc còn phần lãi thì họ lấy gì ra để trả đây. Vì mỗi đồng đôla là một phiếu nợ nên nó phải được trả nợ cả gốc và lãi, như thế thì rõ ràng số lãi đã nằm ngoài lượng giấy nợ, có hai cách để giải quyết. Thứ nhất là lấy vàng ra trả, nếu tính giá vàng bây giờ rồi nhân với lượng vàng thì không đủ để trả nợ! Cách thứ hai thì khả thi hơn, tạo ra thêm đôla cho khoản lãi này. Nếu tạo ra thêm các giấy nợ thì sẽ lại làm tăng nợ phải trả, và cái vòng luẩn quẩn vay nợ phát hành tiền đó diễn ra cho đến khi con nợ chính phá sản! Âm mưu của các nhà ngân hàng đã lộ rõ, họ tạo ra một cho khoản vay rất hợp pháp nhưng thực ra chẳng hợp lý chút nào cả, một âm mưu “tuyệt vời” mà các nhà tài phiệt phố Wall đã vạch ra. Lạm phát là loại thuế vô hình đè nặng lên cổ người dân, với lượng tiền cung ứng tăng cao như thế thì giá cả hàng hóa ắt phải tăng lên. Nhưng sao không tăng lên quá cao mà chỉ ở mức vài phần trăm, các nhà kinh tế học thiên tài phố Wall đã sáng tạo các sản phẩm phái sinh – một công cụ hữu hiệu để giải quyết lượng tiền tệ thừa mứa do lạm phát và dùng nó làm công cụ bóc lột nhân dân.

    c. Điều gì đã tạo ra sự khác biệt:

    Giấy bạc dự trữ liên bang là các giấy nợ (IOU) từ FED tới người mang nó và cũng là các tài sản nợ, nhưng không giống như hầu hết các giấy nợ, chúng hứa trả cho người mang nó chỉ bằng các giấy bạc Dự trữ Liên bang, nói cách khác FED thanh toán các giấy nợ IOU bằng các IOU khác.

    Một câu hỏi đặt ra là các ngân hàng trung ương khác – các ngân hàng trung ương của chính phủ khác gì với ngân hàng trung ương Mỹ. Họ cũng in tiền ra cho chính phủ tiêu đấy thôi, và chính phủ đảm bảo bằng công trái. Điểm khác biết lớn nhất, rõ ràng nhất là khoản lãi chính phủ trả cho Ngân hàng Trung ương không thuộc về một số ít người. Khoản lãi này suy cho cùng cũng là thuộc về người dân mà thôi. Trước đây việc phát hành tiền phải được đảm bảo bằng vàng, chế độ bản vị vàng thống trị hệ thống tiền tệ đã không gây ra tình trạng này nhưng rồi nó bị xóa bỏ để các nhà tài phiệt phố Wall thi nhau bóc lột của cải của nhân dân thông qua nạn lạm phát tiền tệ. Chính nó đã tạo ra điểm khác biệt giữa tiền giấy không có vàng hoặc bạc đảm bảo – tiền luật định và tiền đuợc đảm bảo bằng vàng hoặc bạc.

    Chỉ cần khống chế được quyền phát hành tiền tệ của một quốc gia, tôi sẽ không phụ thuộc vào bất cứ thứ pháp luật nào do ai đặt ra.
    Có rất nhiều loại tiền nhưng tựu chung lại thì chỉ có hai loại đó là tiền vay mượn và tiền phi vay mượn. Tiền vay mượn là tiền pháp định đang lưu thông hiện nay mà thành phần chủ yếu của hệ thống tiền tệ pháp định này là các khoản vay mượn tiền tệ hóa của chính phủ. Ngược lại tiền phi vay mượn là có vàng, bạc đảm bảo.

    Để làm rõ hơn vấn đề chúng ta nên quay lại thời kỳ trước năm 1971 để tìm hiều về bản vị vàng. Tiền tệ là thước đo căn bản nhất của nền kinh tế, mọi thứ đều có thể đo lường bằng tiền tệ và tiền tệ cũng là phương tiện tích lũy giá trị của người dân. Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng. Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu. Các chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỷ giá quy đổi …) Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng hệ thống này đề kháng được sự bành trướng tín dụng và nợ nần. Không như chế độ tiền luật định (không có vàng bảo đảm), đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy.

    Alan Greenspan – cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang trong 19 năm, và nhà kinh tế học vĩ mô Robert Barro đã chỉ ra vàng mới là thước đo chuẩn cho giá cả. Năm 2000, Greenspan đã phát biểu: “Nếu anh sống trong chế độ bản vị vàng hoặc một cơ chế khác mà các ngân hàng trung ương không có quyền thao túng, thì hệ thống đó vận hành một cách tự động. Lý do mà có rất ít sự ủng hộ bản vị vàng đó là những hệ quả của sự tự điều chỉnh đó không được coi là thích đáng ở thế kỷ 20 và 21. Tôi là một trong số ít người vẫn còn cái nhìn lưu luyến về chế độ bản vị vàng ngày xưa, anh biết điều này rồi, nhưng tôi vẫn phải nói với anh, tôi ở trong đám thiểu số giữa các đồng nghiệp vẫn tranh luận về vấn đề này.” Hệ thống tiền tệ ngày nay dựa vào đồng đôla Mỹ như một đồng tiền để neo vào, đồng tiền mà các giao dịch lớn được đo lường.

    Thay vào bản vị vàng giờ đây chúng ta có bản vị đôla – chúng ta có thể chuyển đổi các đồng tiền với đồng đôla. Có điều từ khi hệ thống tiền tệ thế giới tách ra khỏi sự ràng buộc của vàng thì cho tới nay đồng đôla Mỹ đã giảm giá tới 94%. Đồng đôla Mỹ không còn là đồng tiền dự trữ hữu hiệu và an toàn nữa vì nền kinh tế Mỹ đang suy yếu, tổng nợ nước Mỹ đã tăng quá cao. Một con nợ khổng lồ như nước Mỹ thì chẳng ai dám mạo hiểm nắm giữ giấy nhận nợ của nó cả. Có 2 sự khác nhau căn bản giữa bản vị vàng và bản vị đôla là không có sự đảm bảo đổi lại với đồng tiền nội địa. Mức cung tiền nội địa của Anh, Pháp, hay bất kỳ một quốc gia khác không cần có mối liên hệ với đồng đôla Mỹ. Thứ hai là do Mỹ có thể “in” tiền đôla để chi trả nợ, và một khi các quốc gia khác đã có một lượng dự trữ đôla ổn định thì nền kinh tế thế giới sẽ tràn ngập đôla và tất yếu lạm phát sẽ xảy ra. Dưới chế độ bản vị vàng lượng cung ứng tiền sẽ chỉ tăng cùng với lượng vàng khai thác được nên cả nền kinh tế thế giới sẽ ít chịu lạm phát.

    Việc xóa bỏ bản vị vàng để áp dụng tiền pháp định không có đảm bảo đã tước đi quyền lợi chính đáng của người dân. Khi không tin tưởng vào đồng tiền mình có họ đáng nhẽ ra phải có quyền đổi lấy vàng – vàng là sản phẩm từ thiên nhiên và có hạn chứ không như tiền – một thứ rất dễ mất giá trị. Rõ ràng việc FED phát hành ra tiền từ chỗ họ không có gì trong tay và thu được tiền lãi khổng lồ từ chính phủ Mỹ là một trong những sự thật vô lý hiện hiện trước mắt chúng ta.

    Nhìn bề ngoài thì FED không “tham lam nuốt trọn” toàn bộ thu nhập nó tạo ra mà lại rất “tốt bụng” khi gửi lợi nhuận sau khi chia cổ tức vào Bộ Tài chính. Phải chăng các ngân hàng Dự trữ Liên bang chỉ cần mức cổ tức chi trả 6%/năm thôi? Mục đích ở chỗ FED nhờ vào khoản tiền gửi đấy mà có được lợi thế không chịu sự kiểm soát từ chính phủ liên bang như các cơ quan nhà nước khác. Đặc quyền! Nắm quyền lực về kinh tế ắt có ảnh hưởng chính trị, rồi sẽ có lúc quyền lực chính trị sẽ thuộc về tay FED chăng? Thêm vào đó, các ngân hàng đã bội thu từ hoạt động của mình, khoản thu nhập của FED chia ra không đáng là bao so với số lợi nhuận khổng lồ họ thu được. Chúng ta hay cùng xem xét một số chính sách tiền tệ của FED để hiểu rõ vấn đề này.

    2. Chính sách tiền tệ của FED

    Lấy ra một ví dụ khủng hoảng kinh tế để làm rõ chính sách tiền tệ của FED sẽ là hợp lý hơn việc nghiên cứu tình bộ phận nhỏ của chính sách tiền tệ, chúng ta cần có cái nhìn tổng quát về hoạt động của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ qua cuộc Đại suy thoái 1929-1933.

    To understand the Great Depression is the Holy Grail of macroeconomics… And, practicalities aside, finding an explanation for the worldwide economic collapse of the 1930s remains a fascinating intellectual challenge. Hiểu được Đại suy thoái như tìm được chén thánh của kinh tế học vĩ mô… Và trên thực tế, tìm một lời giải thích cho sự kiện nền kinh tế thế giới những năm 1930 vẫn còn là một thử thách trí tuệ đầy lôi cuốn.

    a. Nền kinh tế Mỹ và châu Âu những năm 20 thế kỷ 20:

    Sau cuộc suy thoái nông nghiệp 1921 nền kinh tế Mỹ phát triển khá nhanh chóng, lạm phát ở mức thấp. Từ năm 1922 đến năm 1929, tốc độ tăng tổng sản lượng nội địa là 4.7% trong khi tỷ lệ thấp nghiệp trung bình là 3.7%. Tuy nhiên nền nông nghiệp Mỹ vẫn yếu kém, giá nông sản thấp, người dân vẫn nợ cao từ cuộc suy thoái 1921. Trong khi đó, phía bên kia Đại Tây Dương, nền kinh tế các quốc gia châu Âu suy yếu do phải bồi thường chiến tranh, các khoản nợ với Mỹ, nền kinh tế tăng trưởng rất chậm. Đồng bảng Anh bị định giá cao và nền kinh tế Anh lâm vào trì trệ.

    b. Nguyên nhân:

    Trước khi xem xét cuộc Đại suy thoái diễn ra như thế nào chúng ta hãy xem nguyên nhân từ đâu mà nó xảy ra. Mùa hè năm 1927, FED đã nới lỏng chính sách tiền tệ với “mục đích” làm giảm áp lực thâm hụt cán cân thương mại cho Anh, vì đồng bảng Anh lúc này đang bị định giá cao khiến cho xuất khẩu của Anh gặp nhiều khó khăn. Thực ra từ trước đó 2 năm, năm 1925 giữa chỉ tịch Ngân hàng New York là Benjamin Strong và chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Anh đã có một thỏa hiệp ngầm để mức lãi suất ở Anh cao hơn mức lãi suất ở Mỹ. Cụ thể FED đã mua vào 80 triệu đôla Mỹ trái phiếu trong vòng 8 tháng; cục Dự trữ Liên bang Mỹ hạ lãi suất chiết khấu và để các ngân hàng trung ương châu Âu mang đi một lượng vàng trị giá 500 triệu đôla Mỹ, và lãnh đạo của FED đã nói rằng họ có thể thu về lượng vàng đó đơn giản bằng cách nâng lãi suất. Vị thế của đồng đôla Mỹ bị đảo lộn, việc thay đổi chính sách liên tiếp nới lỏng đã trực tiếp dẫn đến trạng thái không bình thường của hệ thống tài chính. FED giảm lãi suất chiết khấu từ 4% xuống 3.5%, cho các ngân hàng thành viên vay 58 tỷ đôla. Thị trường cổ phiếu New York tạo điều kiện cho nhà đầu tư mua cổ phiếu bằng 1% vốn, nếu cần thì có thể vay thêm ngân hàng. Các ngân hàng được vay từ Cục dự trữ Liên bang Mỹ với lãi suất thấp rồi cho các nhà đầu tư vay với mức lãi suất 12%. Thị trường cổ phiếu New York phát triển nhanh chóng. Người dân Mỹ đầu cơ vào cổ phiếu một cách điên cuồng! Miller – chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ tuyên bố “không thể nói chính xác các khoản vay của nhà đầu tư chứng khoán có quá cao hay không, nhưng tôi chắc chắn họ là những người an toàn và bảo thủ”. Người dân Mỹ đem hết của cải tích lũy được đầu tư vào thị trường cổ phiếu mà không biết rằng thảm họa sắp đổ lên đầu họ, thị trường tài chính Mỹ nóng lên đỉnh điểm.

    Tháng 3 năm 1929, Paul Warburg – “cha đẻ” của Cục dự trữ Liên bang Mỹ cảnh báo nguy cơ khủng hoảng. ngày 20 tháng 4 năm 1929, ủy ban tư vấn Liên Bang họp kín và xây dựng khung nghị quyết cho Hội đồng thống đốc. Ngày 9 tháng 8 năm 1929, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bất ngờ nâng lãi suất cho vay lên 6%. Ngay lập tức Ngân hàng Cục Dự trữ Liên bang tại New York tăng lãi suất cho vay đầu tư chúng khoán từ 5% lên 20%! Lãi suất tăng chóng mặt khiến cho nhà đầu tư rút chạy, bán tống bán thảo cổ phiếu và cuộc khủng hoàng bắt đầu. Ngày thứ 3 đen tối 29/12/1929 đã cho toàn bộ thế giới chứng kiến “tác phẩm” của các nhà tài phiệt, một tác phẩm sẽ trở thành bài học cho bất kỳ ai tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán.

    c. Diễn biến:

    Do các nhà đầu tư bán đổ bán tháo cổ phiếu, chỉ trong 2 tháng khối tài sản trị giá 160 tỷ đôla đã bốc hơi. Lượng cung ứng tiền của nền kinh tế sụt giảm mạnh, tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi có thể phát hành séc tăng, tỷ lệ dự trữ quá mức tăng lên nhanh chóng.

    Người dân đổ xô đi rút tiền từ ngân hàng, số các ngân hàng vỡ nợ tăng lên nhanh chóng. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ hoàn toàn thụ động trong việc ngăn chặc các vụ hoảng loạn ngân hàng và không thực hiện được vai trò là người cho vay cuối cùng. Các nhà lãnh đạo của FED cho rằng các vụ ngân hàng vỡ nợ là những hậu quả đáng tiếc do việc quản lý ngân hàng hoặc thực hiện các hoạt động ngân hàng không tốt, hoặc như những phản ứng không tránh khỏi đối với sự đầu cơ quá mức từ trước, hoặc là hậu quả chứ hầu như không là nguyên nhân của sự sụp đổ kinh tế và tái chính trong quá trình tiến hành. Các ngân hàng bị phá sản lại là các ngân hàng nhỏ và vừa còn các ngân hàng lớn tại New York thì vẫn không hề bị phá sản vì họ đã biết trước khủng hoảng sẽ xảy ra thế nào và bao giờ xảy ra. Tháng 11 năm 1930 chứng kiến vự vỡ nợ của 250 ngân hàng với 180 triệu đôla tiền gửi, còn trong tháng 12 là 532 ngân hàng với 370 triệu đôla tiền gửi.

    Có một cuộc phục hồi kinh tế vào đầu năm 1931 nhưng sau đó nền kinh tế lại suy sụp. Nhưng các cuộc hoảng loạn ngân hàng liên tiếp xảy ra khi tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi có thẻ phát hành séc và tỷ lệ dự trữ dư thừa của các ngân hàng tăng. Lượng tiền cung ứng M1 giảm 25%, vượt xa tất các đợt giảm trong lịch sử nước Mỹ.

    Tháng 8 năm 1931, Ủy ban thị trường tự do liên bang bỏ phiếu 11/1 chống lại việc bỏ ra 300 triệu đôla để mua vào chứng khoán trên thị trường chứng khoán và chỉ thông qua việc chi 120 triệu đôla. Hầu hết các ngân hàng dự trữ, các ngân hàng thành viên đều không nắm được tác hại, mức độ của cuộc khủng hoảng. Kế hoạch thực hiện nghiệp vụ thị trường mở có giá trị 1 tỷ đôla cũng bị dời lại. Việc FED liên tiếp nâng cao lãi suất dẫn tới nền kinh tế chịu giảm phát, kỳ vọng về giảm phát liên tiếp tăng lên, lãi suất thực quá cao, lãi suất cao dẫn đến suy giảm các khoản đầu tư. Lãi suất cao khiến cho người vay nợ không thể trả được nợ, chi phí vay nợ lên quá cao, lượng cung tiền sụt giảm tới 1/3. Rõ ràng FED đã không thể hiện được vai trò là người duy trì lãi suất ổn định, thấp để phát triển nền kinh tế; không đảm bảo an toàn cho người gửi tiền tức không đảm bảo quyền lợi tín dụng của người dân. Chính sách Cục Dự trữ Liên bang không hề phù hợp với thời kỳ khủng hoàng, thay vì giảm lãi suất để kích thích nền kinh tế phát triển trở lại thì FED lại tiếp tục nâng cao lãi suất cho vay các ngân hàng, khiến cho lượng tiền cung ứng suy giảm – dẫn đến sự co hẹp nền kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử.

    Thực ra thì các nhà tài phiệt phố Wall đã nghĩ ra cách nhằm tước đoạt tài sản của nhân dân sẽ mang lại nhiều lợi hơn so với việc cho vay nặng lãi. Chỉ cần tước đoạt đi quyền lợi của người dân, chỉ cần không cho phép người dân có quyền hoán đổi tiền giấy pháp định sang vàng thì thông qua nạn lạm phát tiền tệ họ sẽ bó lột tàn nhẫn, bóc lột cùng kiệt người dân. Nhớ lại năm trước 1929, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực hiện chính sách hạ lãi suất để lượng vàng chảy ra ngoài nước Mỹ lên đến 500 triệu đôla rồi sau đó nâng lãi suất vào năm 1929 khiến cho các ngân hàng thiếu vàng nghiêm trọng và không thể cho vay, hoạt động của cả hệ thống ngân hàng bị đình đón. Khi thị trường chứng khoán xuống tới mức đáy thì các nhà tài phiệt, các ngân hàng quốc tế đổ xô đi mua lượng cổ phiếu giá rẻ. Rõ ràng họ không thể nào mua được quyền sở hữu các công ty, tước đoạt mồ hôi, nước mắt của người dân lao động dễ dàng nếu không làm như vậy. Chỉ cần bán cố phiếu trước một chút trước khi thị trường sụp đổ rồi dùng khoản tiền đó mua vào lượng cổ phiếu rẻ chưa từng có như vậy, các nhà tài phiệt, các ngân hàng quốc tế đã giàu lên nhanh chóng và thâu tóm mọi hoạt động của nền kinh tế.

  3. Khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra nếu FED tăng lãi suất lên

    Nhìn lại quá khứ:

    Dấu hiểu khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ việc FED tăng lãi suất lên mức cao.
    Trước năm 2004, FED giữ lãi suất < 2%
    Từ 2004-2006, FED tăng lãi suất từ 2 lên mốc 5,25% vào ngày 20-9-2006. Sau đó 2007-2008 là khủng hoảng kinh tế.
    Lần này cũng thế, hiện lãi suất của FED là 0,25% sau khi giữ mức 0% từ 2009-2015. Từ đây đến 2017 FED sẽ tăng lãi suất lên 2-3%, mỗi lần tăng 0,25%. Có thể 1 năm tăng 5-8 lần.
    Khi FED tăng lãi suất thì các nước vay nợ USD lớn như China sẽ sụp đỗ, các nước nhỏ sụp đổ theo và khủng hoảng kinh tế bắt đầu
    Khủng hoảng kinh tế thì bds, chứng khoán giảm mạnh, doanh nghiệp phá sản,…tài phiệt sẽ vào thâu tóm giá rẻ

    Sau khi hạ lãi suất xuống mức thấp nhất trong 45 năm còn 1% vào năm 2003, Fed bắt đầu bình thường hóa chính sách tiền tệ từ năm 2004 và 2005 với năm và tám lần tăng lãi suất theo tỷ lệ 25 điểm/lần, nâng lãi suất Fed lên 4,25% vào cuối năm 2005. Chính sách siết chặt lãi suất có tác dụng kiềm chế lạm phát mà lại không cản trở quá trình phục hồi kinh tế sau cuộc suy thoái 2000-2001 nhờ hiệu ứng tích cực của gói kích thích thuế trị giá 212 tỷ đô-la được chính quyền Bush chi ra

    Năm 2006, FED tăng 3 lần lãi suất: dấu hiệu năm 2007-2008 khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
    1. Ngày 29-3-2006, FED đã tăng lãi suất cơ bản từ mức 4,5%/năm lên 4,75%/năm: đây là đợt tăng lãi suất thứ hai kể từ đầu năm 2006 và gần như tức thời, lãi suất USD trên các thị trường tiền tệ chủ chốt của thế giới như lãi suất thị trường liên ngân hàng Singapore (Sibor), lãi suất thị trường liên ngân hàng Luân Đôn (Libor) cũng đều tăng lên
    2. Bất chấp “tuyên bố” trong báo cáo tháng 4-2006 trước đó, FED đã tăng lãi suất cơ bản lên 5% vào ngày 10-5-2006
    3. Đầu tháng 8-2006, FED đã tuyên bố chấm dứt chiến dịch tăng lãi suất kéo dài suốt từ năm 2004 và tối 20-9-2006 vừa qua, kết thúc cuộc họp thường kỳ, FED đã quyết định giữ nguyên lãi suất USD ở mức 5,25% như hiện nay.

Add Comment