Chủ Nhật, Tháng 1 18, 2026

Tất cả thông tin về chương trình MBA

Học MBA online
Trang chủMy BlogHọc thuyết âm mưuThuyết âm mưu trong việc dự báo kinh tế-chính trị toàn cầu...

Thuyết âm mưu trong việc dự báo kinh tế-chính trị toàn cầu năm 2014 – 2018

Mo tai khoan chung khoan Techcombank so dep tu chon

Thuyết âm mưu trong việc dự báo kinh tế-chính trị toàn cầu năm 2014 – 2018 toàn tập.

THUYẾT ÂM MƯU

(Phần 1: Lý Thuyết và Thực Tế theo diễn dải của thuyết âm mưu)

  • Lý Thuyết:
  • Thuyết âm mưu (conspiracy theories) hay thuyết ngờ vực là cách lý giải những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội theo hướng gán cho chúng những âm mưu bí mật của các thế lực ngầm đứng đằng sau. Một giả thuyết âm mưu là một giả thuyết mang tính giải thích theo đó buộc tội một nhóm người hay một tổ chức gây nên hay đứng đằng sau một sự kiện hoặc một hiện tượng gây ảnh hưởng lớn kinh tế chính trị xã hội.

Thế lực ngầm (các ông trùm): các bạn nghiên cứu sách “Chiến Tranh Tiền Tệ” của Song Hong Bing  và sách “Những Âm Mưu Từ Đảo Jekyll “Của  G. Edward Griffin để hiểu rõ hơn về các thế lực ngầm này trong quá khứ.

Một số người đã bắt đầu nhận ra rằng có những tập đoàn tài chính lớn đang thống trị thế giới. Không kể đến các mưu đồ chính trị, xung đột, các cuộc cách mạng và chiến tranh. Nó không phải là tình cờ. Tất cả mọi thứ đã được lên kế hoạch từ lâu.

Một số gọi nó là “lý thuyết âm mưu” hay New World Order. Dù sao, điều chính yếu để hiểu các sự kiện chính trị và kinh tế hiện nay là một hạt nhân hẹp các gia đình, những kẻ đã tích lũy được nhiều của cải và quyền lực.

Chúng ta sẽ không xa sự thật bằng cách trích dẫn Goldman Sachs, Rockefellers, Loebs Kuh và Lehmans ở New York, Rothschild Paris và London, Warburgs của Hamburg, Paris và Lazards ở Israel, Moses Seifs ở Rome.

Tóm tắt những nhà băng lớn nhất thế giới, và xem ai là cổ đông và ai đưa ra quyết định.

Các nhà băng lớn nhất thế giới hiện nay là: Bank of America, JP Morgan, Citigroup, Wells Fargo, Goldman Sachs và Morgan Stanley

Các tập đoàn sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới: Boeing – chế tạo máy bay dân sự, quân sự, hệ thống phòng thủ tên lửa, thông tin liên lạc vũ trụ ; Northrop Grumman – lĩnh vực công nghệ quốc phòng; Lockheed Martin – chế tạo F-16, máy bay chiến đấu, tên lửa Patriot, vệ tinh,…; Raytheon; General Dynamics – sản xuất xe bọc thép Stryker, xe tăng,…

Tất cả các nhà băng và các tập đoàn sản xuất vũ khí đều do các thế lực ngầm sáng lập ra, cổ đông lớn và được ưu tiên cung cấp tín dụng giá rẻ khi sản xuất vũ khí.

Các ông trùm đó là gia tộc sau:

Gia tộc Rothschild: cổ đông lớn công ty Kuhn Leoband Company với đại diện là Paul Warburg (1868 – 1932) – giữ chức chủ tịch FED đầu tiên của Mỹ.

Gia tộc Rockefeller: sáng lập ra Standard Oil – John D.Rockefeller trùm về dầu hóa, sáng lập và chủ Citigroup và cổ đông lớn của Chase Manhanttan Bank.

Gia tộc JP Morgan: trùm ngành công nghiệp Mỹ từ sắt thép, truyền thông, cha để của dự án xây dựng hệ thống đường ray toàn nước Mỹ và những hãng bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ, sáng lập là Ngân Hàng JP Morgan Chase và cổ đông lớn Citigroup.

Gia tộc Carnegie: ông vua công nghiệp sắt thép, nhà doanh nghiệp, người khai sinh môi giới tài chính,…

Theo ước tính đến hiện nay, mỗi gia tộc trên có tổng tài sản khoảng 4.500-5.000 tỷ USD, trong đó gia tộc Rothschild có tài sản nhiều nhất và đứng đầu trong các gia tộc và có quyền quyết định lớn nhất trong việc gây ra chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, kích thích kinh tế thế giới,…

Các ông trùm này có thế lực quyết định mọi vấn đề quan trọng trên thế giới, người sáng lập ra và là cổ đông lớn của FED, IMF, World Bank, các Bank lớn ở phố Wall, các Tập Đoàn lớn nhất thế giới. Về chính trị, họ có quyền quyết định và đưa người nào lên làm Tổng Thống Hoa Kỳ để phục vụ lợi ích tối đa của họ.

Các ông trùm này đa số có nguồn gốc là người Do Thái, những người làm việc các vị trí quan trọng cho các ông trùm cũng xuất phát từ người Do Thái.

Mục đích của các thế lực ngầm:

Dài hạn: xây dựng chủ nghĩa xã hội thế giới, sáp nhập tất cả các quốc gia thành chính phủ thế giới, ngân hàng thế giới.

Ngắn hạn: kiếm lợi nhuận cho các gia tộc bằng các tạo ra chiến tranh, khủng bố, tăng trưởng, khủng hoảng kinh tế.

Thực hiện như thế nào để kiếm lợi nhuận:

Tạo ra chiến tranh, khủng bố để sản xuất và bán vũ khí cho các nước tham chiến.

Kinh tế: dùng biến động giá chứng khoán, bất động sản, vàng, dầu, tiền tệ để tạo khủng hoảng kinh tế.

Với sự hỗ trợ của thế lực ngầm, họ mở hầu bao để thúc đẩy tín dụng phát triển, tạo nên tình trạng thị trường bong bóng, rồi sau khi tài sản của người dân đã đổ dồn vào cơn sóng đầu cơ thì rút mạnh vòng quay lưu chuyển tiền tệ, tạo nên suy thoái kinh tế và sụt giá tài sản. Khi giá tài sản sụt xuống chỉ còn một phần mười thậm chí là một phần trăm giá trị thực thì họ lại ra tay mua vào.

  1. Thực tế

Quá khứ: người viết lấy một ví dụ gần nhất về khủng hoảng và chiến tranh để phân tích ai là người được và mất khi các ông trùm tạo ra các trò chơi này.

Bong bóng bất động sản ở Hoa Kỳ năm 2008-2009:

Số liệu GDP thế giới và các từ năm 2001-2007 (%)

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Thế giới 2.2 2.8 3.6 4.9 4.5 5.1 5
Mỹ 0.75 1.6 2.51 3.63 2.94 2.78 2.02
Nhật 0.2 0.3 1.4 2.7 2 2.4 2.1
Trung Quốc 8.3 9.1 10 10.1 10.4 11.6 11.9
Anh 2.46 2.1 2.81 2.76 2.06 2.84 3.02
Đức 1.2 0 -0.2 1.2 0.8 2.9 2.5
Pháp 1.9 1 1.1 2.5 1.9 2.2 2.2
Ấn Độ 3.9 4.6 6.9 7.9 9.1 9.8 9.3
Nga 5.1 4.7 7.3 7.2 6.4 7.4 8.1
Hàn Quốc 3.8 7 3.1 4.7 4.2 5.1 5
Argentina -4.4 -10.9 8.8 9 9.2 8.5 8.7
Hong Kong 0.5 1.8 3 8.5 7.1 7 6.4
Singapore -2.44 4.17 3.5 8.99 7.3 8.2 7.7

(Số liệu IMF)

Nhìn vào số liệu, chúng ta thấy kinh tế thế giới có sự tăng trưởng cao trong 2 năm 2005 – 2006, thặng dư thương mại và dự trữ ngoại tệ của các nước tăng, mức sống cao, tiền tiết kiệm và nhu cầu đầu tư tăng lên mạnh trong thời gian này.

Đây chính là cơ hội để các ông trùm có thể tạo ra khủng hoảng để cướp tiền của những nước có thặng dư vốn. Họ chuẩn bị một kế hoạch hoàng tráng từ năm 2001 cho cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007, nơi nổ ra chính là Hoa Kỳ bằng cách tạo ra bong bóng bất động sản.

Quá trình tạo ra bùng nổ kinh tế và khủng hoảng:

Bước 1: Mở rộng nguồn cung tín dụng với lãi suất cực thấp cho các hoạt động sản xuất, các ngành công nghiệp,…tiền được bơm ra thị trường ngày càng nhiều, các ông trùm thu mua các tài sản tài chính.

Bước 2: Với nguồn cung tiền nhiều, các ông trùm thiết kế các trò chơi với các tài sản tài chính (chứng khoán, bất động sản) và các hàng hóa như vàng, dầu, tiền tệ. Họ tự tạo ra nhu cầu ảo để đẩy giá tài sản lên cao nhằm thu hút dòng tiền từ các quốc gia có thặng dư vốn, NDT giàu có.

Bước 3: Họ chọn thời điểm khi người chơi dồn hết tiền vào các tài sản tài chính, tâm lý toàn cầu lạc quan cực độ, họ dùng IMF, World Bank để dự báo kinh tế thế giới rất tốt. Sau đó họ lặng lẽ bán hết tài sản tài chính ở vùng đỉnh, sử dụng hợp đồng Quyền Chọn Bán (Option or Furture) để bán các tài sản tài chính ở vùng đỉnh.

Bước 4: Cho bong bóng tài sản rơi, tung tin khủng hoảng kinh tế thế giới ra truyền thông, tạo ra sự hoảng loạn.

Bước cuối cùng: thu lời nhuận lớn từ các chiến thuật:

  • Mua vùng đáy bán vùng đỉnh.
  • Mua hợp đồng bán khống cổ phiếu ở vùng đỉnh.
  • Thúc ép Quốc Hội cứu nền kinh tế, bằng cách bơm tiền ra giúp các nhà băng lớn, tập đoàn lớn (thuộc sỡ hữu của các ông trùm) khi họ giả vờ công bố lỗ vay được tiền với lãi suất rẻ mạt.
  • Cuối cùng, dùng tiền từ các nhà băng lớn, với lãi suất ưu đãi trong giai đoạn kinh tế trì trệ sau khủng hoảng để đi mua các tài sản chính, các công ty với giá siêu rẻ và lên kế hoạch cho đợt tăng trưởng và khủng hoảng tiếp theo.
Những ai là người có lợi trong khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế 2008-2009:

Thứ nhất, các ông trùm từ các gia tộc giàu có, họ sở hữu các tập đoàn tài chính lớn nhất phố Wall như: Bank of America, JP Morgan, Citigroup, Wells Fargo, Goldman Sachs và Morgan Stanley; các nhà băng lớn của gia tộc Rothschild ở Âu Châu.

Thứ hai, những NDT theo trường phái thuyết âm mưu nhìn thấy cơ hội và hành động theo hướng đi của các gia tộc. Những người này được gọi là những người thông minh và biết theo thời thế. Tỷ lệ này rất ít.

Thứ ba là Trung Quốc bị thiệt hại nhẹ vì tham gia chưa sâu vào thị trường tài chính thế giới. Việc không nâng giá đồng nhân dân tệ giúp họ xuất khẩu hàng giá rẻ khắp thế giới trong khủng hoảng, giúp họ phát triển thị trường nội địa, tạo công ăn việc làm cho tầng lớp nhân dân, phát triển cơ sở hạ tầng,…do đó nền kinh tế hồi phục nhanh sau khủng hoảng. Năm 2009 thặng dư thương mại 196 tỷ USD và dự trữ ngoại tệ khoảng 2.404 tỷ USD.

Những người mất lớn nhất:

Thứ nhất, các quốc gia đã tin tưởng hoàn toàn vào các tài sản tài chính mà các ông trùm tạo ra trên phố Wall. Khuyến khích tập đoàn tài chính, ngân hàng của nước mình mua tài sản tài chính từ phố Wall.

Ví dụ: Theo số liệu Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2009, khoảng 50.000 tỷ USD “bay hơi” theo khủng hoảng kinh tế, trong đó các quốc gia đang phát triển ở châu Á bị thiệt hại 9.600 tỷ USD. Các hộ gia đình Mỹ “bốc hơi” hơn 16.400 tỷ USD – theo số liệu từ Cục Dự trữ Liên bang (FED).

Thứ hai, người dân của nước Mỹ và các quốc gia khác. Tiền từ quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ lương hưu, tiền thuế của họ bị các ông trùm cướp hết trong khủng hoảng kinh tế thông qua việc Chính phủ nước họ mua trái phiếu, tài sản tài chính ở Phố Wall.

Tạo ra chiến tranh, khủng bổ để kiếm tiền:

Chiến tranh luôn cần đến tiền, quy mô chiến tranh càng lớn thì lượng tiền ra càng nhiều. Do chính phủ Âu – Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ nên nguồn tiền chủ yếu chỉ có thể vay từ ngân hàng lớn ở Phố Wall.

Chiến tranh làm cho tốc độ tiêu hao vật tư tăng cực độ, khiến cho các nước tham chiến dù có thất bại cũng phải theo đuổi đến cùng. Chiến tranh cũng khiến cho các chính phủ tìm mọi cách để vay tiền ngân hàng.

Các ông trùm hoạch định chiến tranh, kích động chiến tranh, đầu tư cho chiến tranh. Các ngân hàng quốc tế và tập đoàn vũ khí thu lời nhiều từ những xác chết trên chiến trường.

Các ngân hàng phố Wall đứng sau và cung cấp tín dụng ưu đãi cho các tập đoàn sản xuất vũ khí.

Northrop Grumman được các ngân hàng sau cung cấp tài chính: Bank of America, JP Morgan Chase, Deutsche Bank, Credit Suisse First Boston và các nhà băng khác,…

Năm 2007, Lockheed Martin đạt thu nhập 41,1 tỷ USD nhờ chiến tránh Afghanistan, Iraq và những cuộc xung đột khắp thế giới.

Chống khủng bố cũng đem đến lợi nhuận lớn cho công ty này. Lockheed Martin – nhà tài trợ chính của cuộc đảo chính Chile năm 1973. Hợp đồng có thời hạn 5 năm với giá trị 135 triệu USD.

Ai được lợi khi có chiến tranh?

Vẫn là các ông trùm chủ sỡ hữu của các ngân hàng quốc tế và tập đoàn vũ khí. Ngân hàng tài trợ cho các tập đoàn vũ khí bằng tiền của người gửi tiền, tiền từ Chính Phủ cho vay.

Ngân hàng cho các nước tham chiến vay tiền để mua vũ khí từ các tập đoàn sản xuất vũ khí.

Tài sản các nước tham chiến dùng để bảo lãnh khoảng vay là: Chính phủ bảo lãnh tức chính phủ các nước nợ các ngân hàng, bán rẻ tài nguyên thiên nhiên giá rẻ cho các ông trùm, chẳng hạn: dầu mỏ, boxit,than đá,…hoặc trở thành thuộc địa của các ông trùm nếu không có tiền trả sau chiến tranh.

Ai bị thiệt hại khi có chiến tranh?

Thứ nhất, các nước tham chiến vay tiền với lãi suất cao và người dân của họ.

Thứ hai, người nộp thế của nước Mỹ. Tiền nộp thuế thay vì được sử dụng cho các phúc lợi xã hội thì lại đem ra phục vụ chiến tranh. Khoảng 41% hoặc hơn nữa ngân sách chính phủ Mỹ hàng năm dành 650 tỷ USD cho các cuộc chiến tranh.


Phần 2: Chính trị thế giới 2014-2018

Chính trị thế giới

Hoa Kỳ:

Nhiệm kỳ Tổng Thống Obama (2013 – 2016)

Tổng thống Hoa Kỳ là người làm cho nước Mỹ giữ được cường quốc số 1 dẫn dắt toàn cầu.

Điều kiện để các ông trùm (nhóm tạo ra FED, sáng lập ra các công ty sản xuất vũ khí) chọn Tổng Thống: mang lại lợi nhuận tối ưu nhất cho họ và vì một nước Mỹ siêu cường số 1 toàn cầu.

Vì mục tiêu của các ông trùm trong từng thời điểm mà họ chọn Tổng Thống là thuộc Đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ. Chẳng hạn, khi họ muốn tạo ra khủng hoảng kinh tế, gây chiến tranh để bán vũ khí họ chọn Tổng Thống là Đảng Cộng Hòa (ủng hộ 1% giàu có) hoặc khi họ muốn phát triển kinh tế nước Mỹ sau khủng hoảng, muốn làm êm dịu thế giới bằng sức mạnh mềm họ chọn Tổng Thống là Đang Dân Chủ (vì cộng đồng người nghèo).

Suy ra, năm 2013-2016 các công trùm chọn Obama thuộc Đảng Dân Chủ làm Tổng Thống tức muốn Obama thực hiện chính sách phát triển kinh tế Hòa Kỳ, dùng sức mạnh mềm của Obam để xoa dịu thế giới theo quỹ đạo của Mỹ, hạn chế xung đột vũ trang. Điều này cho chúng ta dự báo trong nhiệm kỳ Obama sẽ không xảy ra chiến tranh giữa các nước ở Châu Á (đặc biệt Nhật – Trung).

Chiến tranh nếu có xảy ra thì vào nhiệm kỳ Tổng Thống thuộc Đảng Cộng Hòa (2017 – 2020)

Trong bản thông điệp gửi Quốc hội Mỹ đầu tháng 2.2014, Tổng thống Obama đã tuyên bố các chiến lược như sau: hướng tập trung những nỗ lực chính vào chính sách kinh tế trong nước và khu vực Trung Đông, ít nói tới chính sách “trở lại Châu Á” của Mỹ.

Tổng thống Obama tuyên bố rằng từ giờ trở đi, Trung Quốc không còn là đất nước số 1 nên được đầu tư. Theo tuyên bố của ông Obama, đất nước đó phải là Hoa Kỳ.

Barack Obama tập trung vào Trung Đông, mà theo ý kiến của ông, là “một chiến thắng ngoại giao” của Mỹ. Ông đề cập đến Syria, đến việc rút quân khỏi Afghanistan…v.v

Nhiều khả năng là những hoạt động trong tương lai của Mỹ ở khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ mang tính chất tổng hợp về kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp lý quốc tế… Áp dụng chiến tranh tâm lý như thuở đối đầu với Liên Xô nhưng lần này, họ sẽ gieo rắc vào đầu các dân tộc châu Á sự sợ hãi trước nguy cơ đe dọa kinh hoàng của Trung Quốc.

Chi phí quân sự:

Mỹ tiếp tục giảm nhanh các chi phí quân sự – từ 664 tỷ USD trong năm 2012 xuống còn 582 tỷ USD trong năm 2013 và sẽ xuống còn 575 tỷ USD trong năm 2014; 535 tỷ USD trong năm 2015.

Chi tiêu quân sự lớn nhất thế giới, chiếm 39% tổng chi phí quân sự toàn cầu và tương đương 4,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Các lực lượng vũ trang của quân đội Mỹ được chia thành 5 binh chủng gồm Bộ binh, Hải quân, Không quân, Thủy quân lục chiến và Cảnh sát biển

Trung Quốc

Nhiệm kỳ Chủ Tịch Tập Cận Bình 5 năm (15-11-2012 đến 15-11-2017)

Tổng bí thư mới của Trung Quốc có một gia thế hoàn hảo, với danh tiếng của cha ông, cựu phó thủ tướng Tập Trọng Huân, người đi đầu trong phong trào cải cách kinh tế ở Trung Quốc, cùng nhiều năm liền tích lũy kinh nghiệm lãnh đạo và làm kinh tế ở các tỉnh thành lân cận Bắc Kinh.

Chiến lược đối ngoại mới của Trung Quốc sẽ tập trung vào 3 khu vực: một là “Con đường tơ lụa mới” bao gồm các quốc gia Trung Á, hai là con đường tơ lụa trên biển” ở Đông Nam Á và cuối cùng là tạo ra “hành lang kinh tế” kết nối Myanmar, Bangladesh và Ấn Độ với Trung Quốc.

3 thách thức lớn với Tập Cận Bình:

Thách thức lớn đầu tiên là việc thực thi chương trình cải cách kinh tế. Ông Tập phải chuyển đổi những cam kết thành chính sách và những chính sách đưa ra phải cụ thể, tạo ra kết quả mang tính định lượng.

Điều này có nghĩa Trung Quốc sẽ bắt đầu năm mới với việc thực thi những cải cách mà chỉ đòi hỏi biện pháp mang tính hành chính, như việc cấp giấy phép hoạt động cho lĩnh vực ngân hàng tư nhân, tăng tính cạnh tranh qua việc gỡ bỏ rào cản để các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia thị trường ngân hàng, tự do hóa tỷ lệ lãi suất và trao đổi tiền tệ, và mở rộng quyền cư trú cho lao động nhập cư tới các thành phố nhỏ và thị trấn.

Thách thức lớn thứ hai là duy trì được sự ủng hộ cao của quần chúng với cuộc chiến chống tham nhũng đầy cam go. Trong trường hợp không thu hút được sự ủng hộ từ quần chúng với các kế hoạch cải cách, phương tiện duy nhất ép buộc bộ máy chính trị phải thực thi chương trình hành động của ông là cảnh báo về việc sẽ đưa ra điều tra và truy tố về tham nhũng.

Thách thức thứ ba là tránh một cuộc xung đột không cần thiết với Nhật Bản. Trung Quốc vừa mới tuyên bố về Vùng Nhận diện phòng không (ADIZ) bao trùm lên cả nhóm đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku, sau đó là chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tới ngôi đền tranh cãi Yasukuni, khiến cho mối quan hệ song phương, hiện đã ở mức thấp nhất trong vòng 40 năm qua, sẽ tiếp tục trở nên tồi tệ hơn.

Chi phí cho quân sự tăng:

Tạp chí IHS Jane’s, chuyên phân tích và tư vấn công nghiệp quốc phòng, gần đây công bố số liệu cho thấy, trong năm 2014, Bắc Kinh có thể sẽ chi 148 tỷ USD cho ngân sách quốc phòng. Báo cáo này cũng dự đoán đến năm 2024, chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc sẽ lớn hơn toàn bộ các nước Tây Âu cộng lại.

Theo báo cáo mới nhất của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), Trung Quốc dẫn đầu cuộc đua vũ trang tại châu Á trong năm 2013, với tổng chi tiêu quốc phòng lên tới 112,2 tỷ USD,  nhiều hơn Nhật Bản, Hàn Quốc, đảo Đài Loan và Việt Nam cộng lại.

Chi tiêu quân sự của Trung Quốc hiện chiếm 9,5% tổng chi phí quân sự toàn cầu, tương ứng 2% GDP.

Nhật Bản:

Tháng 9/2012, ông Shinzo Abe một lần nữa trở thành Thủ tướng Nhật Bản, sau nhiệm kỳ ngắn ngủi 2006-2007. Dấu ấn mà ông để lại trong những ngày đầu tái cầm quyền là các chính sách kích thích kinh tế hiệu quả, được giới kinh tế học mệnh danh là Abenomics.

Nhưng trong mắt ông Abe, việc khôi phục thực lực nền kinh tế chỉ là công cụ để thực hiện một mục tiêu khác. Đó là kiến thiết một nước Nhật Bản hùng mạnh hơn, tự tin hơn, sở hữu quân đội hoàn thiện và niềm tự hào quốc gia như thời kỳ Thế chiến thứ hai.

Ông Abe có lập trường cứng rắn đối với tranh chấp quần đảo Senkaku.Abe cho rằng “Trung Quốc đang thách thức một thực tế rằng quần đảo là lãnh thổ vốn có của Nhật Bản. Mục tiêu của chúng ta là phải ngăn chặn ngay những thách thức ấy”.Ông phủ nhận tội ác chiến tranh của Nhật Bản trong thế chiến 2 và việc tu chính Hiến pháp Nhật Bản để tăng quyền lực cho Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản.

Về chính sách đối với kinh tế Nhật Bản, ông Abe có chủ trương cố gắng kết thúc sự giảm phát, nâng cao giá trị đồng yên và thúc đẩy kinh tế phát triển. Abe cam kết sẽ nới lỏng một cách “không hạn chế” chính sách tiền tệ, đồng thời tăng chi tiêu công.

Đối với điện hạt nhân, một trong những vấn đề quan trọng được người dân Nhật quan tâm, đảng Dân chủ Tự do sẽ ủng hộ việc phát triển nguồn năng lượng hạt nhân bất chấp thảm họa nhà máy điện Fukushima I năm 2011.

Chi phí quân sự:

Nhật Bản 59,3 tỷ USD chiếm 3,4% tổng chi tiêu quân sự thế giới, tương đương với 1% GDP

Trong giai đoạn từ năm 2014-2019, Nhật Bản sẽ chi cho nhu cầu quân sự tổng cộng 24,7 ngàn tỷ yen (gần 240 tỷ USD). Chính phủ Nhật dự tính tái trang bị cho Lục quân bằng cách thay thế một phần lực lượng xe tăng bằng các xe chiến đấu bánh lốp cơ động hơn. Không quân Phòng vệ Nhật sẽ nhận được 28 tiêm kích tàng hình thế hệ 5 của Mỹ F-35 Lightning II, còn số lượng tàu chiến trang bị hệ thống phòng không Aegis sẽ tăng từ 6 lên 8 chiếc.

Khu vực Châu Âu

Thủ tướng Đức Angela Merkel ngày 17/12/2013 đã tuyên thệ nhậm chức và có cuộc họp đầu tiên với Nội các mới, bắt đầu nhiệm kỳ Thủ tướng thứ 3 trong 4 năm tới của bà. Nhà lãnh đạo quyền lực nhất châu Âu hiện nay, Thủ tướng Đức đương nhiệm Angela Merkel sẽ là tiếng nói trọng lượng trong việc lựa chọn Chủ tịch Ủy ban châu Âu.

Năm 2014 một thế hệ lãnh đạo chính trị châu Âu sẽ rút lui. Hai nhân vật ở cấp cao nhất là Chủ tịch Hội đồng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu, sẽ về nghỉ hưu khi kết thúc nhiệm kỳ. Thay vào đó là các nhân vật mới, sẽ được biết đến sau cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào cuối tháng 5. Nhân sự ở cấp Cao ủy (cấp Bộ trưởng của Ủy ban châu Âu) cũng sẽ có xáo trộn lớn.

Về mặt chính trị thì đây sẽ là một năm thú vị với những người quan sát từ bên ngoài, nhưng cũng là một năm rủi ro với chính trị châu Âu. Chắc chắn sẽ có một giai đoạn không bình thường, khi người cũ bận đóng đồ xách vali về nước còn người mới đến thì chưa quen việc. Giai đoạn đó sẽ đầy rủi ro với châu Âu cả trên bình diện chính trị lẫn ngoại giao”.

Đã xuất hiện một vết rạn nứt giữa Đức, luôn muốn đưa ra các bài học và có xu hướng thu mình, và các nước phía Nam cắn răng chịu đựng các chính sách khắc khổ, chưa thấy tia hy vọng. Cuộc bầu cử nghị viện châu Âu sắp tới sẽ là cơ hội để người dân trút nỗi bực dọc.

Theo đánh giá của các chuyên gia Quỹ nghiên cứu châu Âu của chúng ta (Notre Europe), các đảng phản đối sự hội nhập châu Âu có thể giành tới 25% số phiếu. Cho tới nay làn sóng dân túy đã bị đẩy lùi tại nhiều nước, nhưng ở Hy Lạp, Italy , Phần Lan, Anh, Hà Lan hay Pháp, khuynh hướng này lại có bước tiến đáng kể.

Khủng hoảng kinh tế đã làm suy yếu các nền dân chủ. Chỉ cần một cuộc nổi dậy của người dân hoặc thành tích bùng nổ của một đảng dân túy cũng đủ gây mất ổn định cho một quốc gia và phát động một cơn sóng thần làm cả Khu vực đồng tiền chung euro chấn động.

Chi phí quân sự:

Pháp: 58,9 tỷ USD, chiếm 3,4% chi tiêu quân sự toàn thế giới và tương đương với 2,3% GDP.

Đức: 45,8 tỷ USD, chiếm 2,6% tong tổng chi tiêu quân sự toàn cầu và tương đương 1,4% GDP.

Ý: 34 tỷ USD, với số tiền 34 tỷ USD, Ý xếp vị trí thứ 10 trong danh sách các quốc gia chi tiêu quốc phòng lớn nhất thế giới và chiếm 1,9% tổng mức chi tiêu quân sự toàn cầu. Số tiền này tương đương với 1,7% GDP của Ý


Phần 3: Kinh tế thế giới 2013 – 2018

Kinh tế thế giới 2013-2018

Số liệu GDP thế giới và các từ năm 2008-2013 và dự báo 2014 (%)

2008 2009 2010 2011 2012 2013 F 2014
Thế giới 1.5 -2.1 4.1 2.9 3.1 3 3.7
Mỹ -0.3 -2.8 2.5 1.8 2.8 1.9 2.8
Nhật -1.1 -5.5 4.7 -0.6 1.4 1.7 1.7
Trung Quốc 9.6 9.2 10.4 9.3 7.7 7.7 7.5
Anh -0.8 -5.2 1.7 1.1 0.3 1.7 2.4
Đức 0.8 -5.1 3.8 3.4 0.9 0.5 1.6
Pháp -0.1 -3.1 1.7 2 0 0.2 0.6
Ấn Độ 3.9 8.5 10.5 6.4 3.2 3.8
Nga 5.2 -7.8 4.5 4.3 3.4 1.5 2
Hàn Quốc 2.3 0.3 6.3 3.7 2.1 2.8
Argentina 6.7 0.8 9.2 8.9 1.9 3.4
Hong Kong 2.1 -2.4 6.8 4.8 1.5 2.9
Singapore 1.7 -0.8 14.8 5.2 1.3 3.5

(Số liệu IMF)

Hoa Kỳ

Chính sách Obama trong nhiệm kỳ 2013 – 2016 cũng chính là mục tiêu của các ông trùm

Số liệu kinh tế Hoa Kỳ năm 2013:

Năm 2013, nền kinh tế Mỹ chỉ tăng trưởng ở mức 1.9%, ít hơn con số 2.8% của năm 2012.

Ðộng lực chính giúp đẩy mạnh phát triển kinh tế trong ba tháng cuối của năm 2013 là nhờ vào mức gia tăng 3.3% trong chi tiêu của người dân Mỹ, cao hơn nhiều so với mức 2% trong quý 3. Sự chi tiêu của người dân là điều đặc biệt quan trọng vì chiếm khoảng 70% trị giá của nền kinh tế Mỹ.

Thâm hụt thương mại của Mỹ giảm trong năm 2013 do xuất khẩu tăng lên mức kỷ lục. Bộ Thương mại Mỹ cho biết thâm hụt thương mại giảm 63,1 tỷ USD xuống 471,5 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ năm 2009. Xuất khẩu cả năm đạt 2,3 nghìn tỷ USD, mức kỷ lục mới trong năm thứ tư liên tiếp.

Nền kinh tế Hoa Kỳ đem lại khoảng 113.000 việc làm trong tháng Một, tháng thứ hai liên tiếp thống kê việc làm được cho là yếu hơn dự đoán.

Tỷ lệ thất nghiệp tháng 1.2014 đã giảm xuống 6,6%, mức thấp nhất kể từ tháng 10 năm 2008.

Văn phòng Ngân sách của Quốc hội Mỹ (CBO) dự báo mức thâm hụt ngân sách tổng cộng sẽ là 514 tỷ USD trong tài khóa 2014, so với con số 680 tỷ USD của tài khóa 2013 và mức cao kỷ lục 1,4 nghìn tỷ USD trong tài khóa 2009. Mức thâm hụt của năm nay sẽ tương đương với 3% GDP, gần ở mức trung bình trong suốt 40 năm qua.

Trong năm nay, thu ngân sách liên bang dự kiến tăng 9%, đạt 3.000 tỷ USD (tương đương 17,5% GDP), còn chi có thể tăng 2,6%, lên 3.500 tỷ USD (tương đương 20,5% GDP).

Thâm hụt ngân sách lớn trong những năm gần đây đã làm tăng đáng kể nợ của liên bang và tỷ lệ nợ trên quy mô nền kinh tế hiện ở mức rất cao trong lịch sử là 17,3 nghìn tỷ USD.

Về tình hình nền kinh tế Mỹ, sau giai đoạn phục hồi chậm kể từ sau cuộc suy thoái năm 2009, CBO nhận định kinh tế nước này sẽ tăng vững chắc trong năm 2014 và 5 năm tới.

Chính sách Obama về kinh tế

Thứ nhất, tạo ra thêm hàng triệu việc làm mới cho dân Mỹ bằng cách sử dụng chính sách thuế ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp dịch chuyển sản xuất về Mỹ, khuyến khích tăng sản lượng hàng hóa “Made in America”.

Thứ hai, tăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu, giảm 50% nhập khẩu năng lượng từ này đến năm 2020 bằng cách phát triển khí đốt và năng lượng

Thứ ba, giảm thâm hụt ngân sách. Obama chủ trưởng giảm thâm hụt 4.000 tỷ USD trong 10 năm. Các biện pháp để đạt mục tiêu này gồm 2.000 tỷ USD đang trong kế hoạch tiến hạnh, khoảng 1.500 tỷ USD có được từ tăng thuế người giàu và không giảm thuế bất hợp lý cho doanh nghiệp cộng với 850 tỷ USD tiết kiệm sau khi rút quân khỏi Iraq và Afghanistan.

Số liệu xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ tham khảo:

http://content.govdelivery.com/attachments/USESAEI/2014/01/07/file_attachments/261331/International%2BTrade%2B%2528November%2B2013%2529.pdf

Vào tháng 1-2009, mỗi tháng có 700.000 lao động mất việc. Tỉ lệ thất nghiệp lên đến 10%. Đến tháng 12-2013, tỷ lệ thất nghiệp còn 6,7%, mỗi tháng có khoảng 200.000 lao động mất việc. Cho thấy chính sách Obama đã tạo ra nhiều việc làm như đã hứa

Ngay cả khi điều chỉnh theo mức lạm phát, các hộ gia đình Mỹ cuối cùng cũng đã có những sự cải thiện bằng với mức trước cuộc khủng hoảng tài chính. Nếu điều chỉnh theo mức lạm phát, giá trị tài sản hộ gia đình Mỹ trong quý thứ III của năm 2013 lên tới 71,93 nghìn tỷ USD, cao hơn đôi chút so với quý I năm 2007, với sự gia tăng 0,7% của giá trị tài sản thực ròng 71,42 nghìn tỷ USD. Điều đó có nghĩa các hộ gia đình Mỹ đã tự mình ra khỏi cuộc Đại suy thoái, ít nhất trong đánh giá tổng thể.

Năm 2009, giá trị xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của Hoa Kỳ đạt 1.570 tỷ USD, giá trị nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khoảng 1.945 tỷ đồng, thâm hụt thương mại khoảng 375 tỷ USD.

Tính từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2013, giá trị xuất khẩu hàng hóa 2.079 tỷ USD, giá trị nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khoảng 2.514 tỷ USD.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc 11 tháng năm 2013 với giá trị khoảng 402,8 tỷ USD; từ Châu Âu với giá trị khoảng 423 tỷ USD; từ Canada khoảng 305,3 tỷ USD, từ Mexico 258,3 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Trung Quốc 11 tháng năm 2013 khoảng 108,9 tỷ USD, Châu Âu khoảng 301,6 tỷ; Canada khoảng 277 tỷ USD, Mexico khoảng 208,1 tỷ USD.

Kết luận:

Các ông trùm đã thực hiện được mục tiêu tạo hàng triệu việc làm cho dân Mỹ, còn mục tiêu hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, kêu gọi giới đầu tư các nước vào Mỹ để đầu tư, sản xuất hàng hóa vẫn đang thực hiện trong năm 2013 – 2016, đây cũng chính là lý do ra đời hiệp định TPP.

Người viết sẽ phân tích rõ trong các phần tiếp theo

  • Trung Quốc: bong bóng bất động sản sắp vỡ
  • Số liệu kinh tế vĩ mô năm 2013 và dự báo 2014

Tổng Cục thống kê Trung Quốc (NBS), trong năm 2013, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã đạt mức tăng trưởng 7,7%, vượt mục tiêu 7,5% do chính phủ đề ra. GDP của Trung Quốc đạt 9.310 tỷ USD. Trung Quốc đã tạo được hơn 10 triệu việc làm mới, trong khi lạm phát giữ ở mức 2,6%.

Chủ nợ Trung Quốc đã tăng thêm 12,2 tỷ USD trái phiếu kho bạc tính đến cuối tháng 11/2013, đạt mức cao chưa từng có là 1.317 tỷ USD. Số liệu này vừa được Bộ Tài chính Mỹ công bố giữa tháng 1-2014.

Số liệu mà Bắc Kinh công bố mới đây cho thấy, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tính đến cuối tháng 12-2013 đạt mức kỷ lục 3.820 tỉ USD, cao hơn dự trữ ngoại hối của bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới từ trước đến nay. Kim ngạch ngoại thương năm 2013 vượt 4.000 tỷ USD.

Quá trình hình thành bong bóng bất động sản Trung Quốc:

Quá trình xảy ra bong bóng bất động sản: theo công trình nghiên cứu của nhà kinh tế vĩ đại Hyman Minsky, Kindleberger đã vạch ra 5 giai đoạn của một bong bóng hoàn chỉnh, Kháng ứng dụng 5 giai đoạn này vào bong bóng bất động sản Trung Quốc từ 2008 – 2015

Giai đoạn 1: Hình thành bong bóng

Bong bóng có thể xuất hiện thông qua một số biến cố cơ bản của nền kinh tế.

Bong bóng bất động sản Trung Quốc vỡ trong tương lai có thể là kết quả của gói kích cầu 4.000 tỷ Nhân dân tệ (công bố tháng 11/2008), ước tính 586 tỷ USD (khoảng 15% GDP) theo tỷ giá năm 2008, tức là bơm tiền với lãi suất thấp vào thị trường

Gói kích cầu nhằm vào chương trình tái thiết hệ thống cơ sở hạ tầng khổng lồ (xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông, nông thôn, tái thiết sau động đất); phần còn lại nhằm vào cải thiện công nghệ, xây dựng nhà ở, cải thiện hệ thống y tế, năng lương và môi trường.

Tận dụng gói kích cầu này, dòng tiền đã chạy vào lĩnh vực bất động sản. Trong 11 tháng năm 2008, Chính phủ đã rót vào lĩnh vực bất động sản 387,5 tỷ USD (2.700 tỷ Nhân dân tệ) trong đó có 280 triệu USD trong gói kích cầu chung của Chính phủ.

Giai đoạn 2: Tăng vọt

Phần lớn dòng vốn kích cầu chảy vào lĩnh vực xây dựng và bất động sản, khiến thị trường bất động sản Trung Quốc bắt đầu xuất hiện một đợt đầu cơ mới.

Chính phủ ban hành một loạt chính sách kích thích sự phát triển của thị trường bất động sau như: Giảm lãi suất cơ bản 5 lần trong năm 2008.

Năm 2010, ban hành chính sách xóa bỏ hạn chế vay tín dụng mua nhà của cư dân và doanh nghiệp.

Năm 2012, hai lần hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạ thấp sàn lãi suất cho vay đối với lĩnh vực cầm cố, thế chấp nhà ở, cho vay đối với các gia đình cần mua nhà ở mới,…

Tỷ lệ đòn bẫy tài chính của Trung Quốc đã tăng từ mức 127% GDP lên mức 150% GDP năm 2010 và năm 2012 lên 190% GDP. Cho vay với quy mô lớn và các tiêu chuẩn vay được hạ thấp đã làm gia tăng nợ xấu.

Năm 2010-2011, giá bất động sản Trung Quốc tăng vọt, đặc biệt là ở các thành phố lớn giá đã tăng hơn 120% so với năm 2009

Giai đoạn 3: Phấn khích

Các doanh nghiệp bất động sản xây dựng ngày càng nhiều dự án căn hộ chung cư, tòa nhà cho thuê vì tin rằng nhu cầu sẽ còn cao trong các năm tới, họ tạo cầu ảo để kích giá lên cao

Người dân, nhà đầu tư thấy nhiều người giàu lên nhờ bất động sản nên nôn nóng, mua theo giá cao, mua trong cơn sốt đất và tin giá bất động sản còn lên nữa.

Giá bất động sản ở vùng đỉnh theo kéo dài rất ngắn (khoảng 3-6 tháng). Lượng tiền đổ vào bất động sản trong giai đoạn này (2010-2011) rất nhiều từ nguồn vay nóng lãi suất chợ đen, lãi suất cao từ các tổ chức tài chính,…nguy cơ vỡ nợ rất cao

Nhà kinh tế đoạt giải Nobel kinh tế 2013 Robert Shiller trong một chuyến thăm Thâm Quyến cũng khẳng định bong bóng bất động sản tại Trung Quốc đang là vấn đề nghiêm trọng.

Theo tính toán của ông Shiller, người dân tại các thành phố lớn của Trung Quốc như Thâm Quyến, Thượng Hải đang phải mua nhà với giá bằng 8 – 10 lần thu nhập hàng năm, một mức cao không thể chấp nhận được. Và việc mọi người vẫn muốn mua một căn hộ hầu hết chỉ do họ kỳ vọng giá sẽ còn tăng tiếp.

Giai đoạn 4: Khủng Hoảng dự kiến 2015-2016

Trong giai đoạn khủng hoảng, những người tham gia bắt đầu công cuộc bán tháo của mình.

Nhiều chủ đầu tư, dự án bắt đầu bán tháo các bất động sản vì nợ vay đến hạn trả mà không có tiền. Các ngân hàng cho doanh nghiệp vay thì mang nợ xấu nhiều, khát tiền mặt.

Nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi dự án bất động sản, ngân hàng của Trung Quốc, làm sụt giá bất động sản, ngân hàng thì vỡ nợ

Vào tháng 3/2012, Citigroup cũng bán toàn bộ cổ phần tại ngân hàng Shanghai Pudong Development Bank sau 9 năm đầu tư vào ngân hàng này. Bank of America bán 10,4 tỷ USD cổ phiếu tại Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc hồi tháng 11/2011 và thu về lợi nhuận 1,8 tỷ USD.

Vào tháng 5/2013, Goldman Sachs vừa thông báo kết thúc 7 năm đầu tư vào Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC). Ngân hàng đến từ nước Mỹ sẽ bán toàn bộ số cổ phần hiện có giá trị thị trường là 1,1 tỷ USD tại ICBC.

Vào đầu tháng 6/2013, Everbright – ngân hàng lớn thứ 11 trên toàn quốc tuyên bố mất khả năng thanh toán khoản nợ đáo hạn gần 1 tỷ đô-la. Đầu tháng 6/2013, Ngân hàng Everbright của Trung Quốc bị phá sản vì không thanh toán nổi một khoản nợ đáo hạn trị giá tương đương với 980 triệu đô-la.

Khoảng 64% triệu phú Trung Quốc mang theo tài sản của họ di cư hoặc có ý định di cư sang nước ngoài, theo báo cáo của Hurun, một công ty chuyên nghiên cứu về sự giàu có ở Trung Quốc cho biết 1/3 người siêu giàu của Trung Quốc có tài sản từ 16 tỷ đô trở lên đã di cư sang nước ngoài.

Mỹ là điểm đến đầu tiên của họ mà bất kỳ đại lý bất động sản nào tại San Francisco, Seattle, hay New York có thể xác nhận được. Châu Âu là điểm đến ưa thích thứ hai của họ sau đó là Canada, Australia, Singapore và Hong Kong.

Giai đoạn 5: Khiếp sợ

Giai đoạn cuối, giá bất động sản sụt giảm mạnh, có thể giảm về mức thấp hơn giai đoạn bắt đầu.

Nhà đầu tư sẽ mất rất nhiều tiền sau bong bóng bất động sản Trung Quốc. Dự kiến sẽ xảy ra năm 2017 – 2018

Trung Quốc cải cách như thế nào:

Các nhà chức trách Trung Quốc đã bắt đầu hành động và tổ chức kiểm toán khẩn cấp. Và hiện giờ Trung Quốc đang cố gắng giải quyết vấn đề nợ tồn đọng. Đồng thời, nền kinh tế Trung Quốc có đủ nguồn lực và dự trữ vàng đủ lớn, kim ngạch ngoại thương năm 2013 vượt 4.000 tỷ USD.

Trung Quốc sẽ không cho phép xảy ra khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính. Trước hết, không giống như các nước nhỏ khác, nợ của Trung Quốc không lớn và vẫn có thể gia tăng. Thứ hai, sự hiện diện của Nhà nước trong nền kinh tế với nguồn lực to lớn đang đóng một vai trò đáng kể.

Trong tháng Giêng, Trung Quốc hủy bỏ lệnh cấm các công ty tư nhân tổ chức IPO để thu hút đầu tư cho sự phát triển của mình và để không còn phải vay tiền ngân hàng. Chính quyền Trung Quốc đã thay đổi các quy tắc chính của luật chơi. Các khoản nợ lớn từ các thành phố và các công ty đã nổi lên do chính phủ đòi hỏi bằng mọi giá phải đạt hiệu quả tăng trưởng mong muốn

Hội nghị Trung Ương lần thứ 3 khóa 18 diễn ra từ ngày 9 -12.11.2013 với các nội dung cơ bản về cải cách kinh tế:

Tiêu điểm của việc tái cấu trúc hệ thống kinh tế… là cho phép (các lực lượng) thị trường đóng một “vai trò quyết định” trong việc phân phối tài nguyên.

Lần đầu tiên, Đảng cũng nói rằng khu vực tư nhân phải được đối xử bình đẳng với các doanh nghiệp nhà nước. “Cả hai khu vực công và tư đều là thành phần quan trọng của thị trường xã hội chủ nghĩa và là cơ sở quan trọng của nền kinh tế và sự phát triển xã hội của quốc gia”.

Thiết lập các quy tắc thị trường mở và minh bạch; để cho thị trường đóng vai trò chủ yếu trong việc định giá. Thiết lập một thị trường thống nhất về xây dựng đất đai ở đô thị và nông thôn; cải tiến hệ thống tài chính; đưa cuộc cải tổ trong các khu vực khoa học và công nghệ vào chiều sâu.

Nhật Bản:

Từ năm 1990 đến 2012, kinh tế Nhật Bản vẫn trong tình trạng giảm phát, khả năng cạnh tranh của khối doanh nghiệp suy giảm.

Đồng yên tăng giá so với USD và nằm trong khoảng quanh 1 USD = 75 – 83 JPY trong năm 2010 – 2012 và sự tăng trưởng của Trung Quốc, làm hàng xuất khẩu của Nhật Bản kém cạnh tranh so với các nước.

Chủ tịch đảng Dân chủ Tự do (LDP) Shinzo Abe làm thủ tướng thứ 96 của Nhật Bản vào ngày 26/12/2012

Ngày 11/1/2013, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe công bố gói kích thích kinh tế lên tới 20,2 nghìn tỷ Yên (226,5 tỷ USD), sẽ có 11,3 nghìn tỷ Yên do chính quyền trung ương cấp nhằm kích thích kinh tế và trợ cấp hưu trí. Phần còn lại do chính quyền các địa phương và khu vực kinh tế tư nhân góp sức.

Mục tiêu đưa kinh tế Nhật vượt ra khỏi tình trạng giảm phát triền miên. Cụ thể là tạo ra 600.000 việc làm mới và đưa GDP tăng 2%. Cả năm 2013, GDP Nhật Bản tăng 1,7%

“Ba mũi tên” trong chính sách kinh tế của ông Abe: nới lỏng chính sách tiền tệ, tăng chi tiêu công và áp dụng những biện pháp nhằm kích thích tăng trưởng, trong đó chú trọng đầu tư vào khu vực tư nhân nhằm chấn hưng nền kinh tế đang trượt dài trong trì trệ.

Gói kích thích chi tiêu lớn này cũng làm dấy lên những lo ngại về tình hình sức khỏe tài khóa của Nhật, vốn đã trong tình trạng thâm hụt nặng nhất trong số các nước công nghiệp phát triển. Hiện nợ công: 11.059,35 tỷ USD, tỷ lệ nợ công/GDP là 204,9%

Năm 2013, thâm hụt thương mại của Nhật Bản đạt 11.470 tỷ yen (tương đương 112,07 tỷ USD), tăng 65,3% so với mức thâm hụt 6.940 tỷ yen năm 2012.

Giá trị xuất khẩu của Nhật Bản tăng 15%, chỉ đạt 81.260 tỷ yen và đây là tháng thứ tư giá trị nhập khẩu của nước này tăng liên tiếp. Nguyên nhân chủ yếu của tăng kim ngạch nhập khẩu là do khí đốt hóa lỏng tăng 17,5% và dầu thô tăng 16,3%

Giá trị xuất khẩu của Nhật Bản tăng 9,5%, đạt 69.790 tỷ yen. Đây là năm đầu tiên xuất khẩu của Nhật Bản tăng trong 3 năm gần đây.

Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản. Năm 2013, xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc tăng 9,7%, đạt 12.630 tỷ yen; trong khi đó nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 17,4%, đạt 17.650 tỷ yen

Khu vực Châu Âu:

Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm 2009 với sự gia tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ai-len, Italia, Hy Lạp và Tây Ban Nha). Hy Lạp là quốc gia đầu tiên bước vào vòng xoáy này, với mức thâm hụt ngân sách đạt tới 13,6% GDP. Nợ công Hy Lạp cũng lên tới 236 tỷ Euro, bằng khoảng 115% GDP của Hy Lạp vào năm 2009.

Vào tháng 11-2010, Ai-len chính thức trở thành nạn nhân thứ hai của cơn bão khủng hoảng nợ công khi phải cầu viện Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Bước sang năm 2011, Bồ Đào Nha tiếp tục là quốc gia thứ ba rơi vào khủng hoảng khi tuyên bố mức thâm hụt ngân sách đã lên tới 8,5% GDP, cùng với đó, nợ công cũng đã vượt quá 90% GDP.

Italia và Tây Ban Nha mặc dù chưa thực sự rơi vào khủng hoảng, nhưng cũng ở trong vòng nguy hiểm. Thâm hụt ngân sách của Italia vào năm 2011 mới chỉ ở mức 5% GDP, nhưng nợ công đã xấp xỉ 120% GDP. Tây Ban Nha nợ công ở mức 72% GDP, trong khi thâm hụt ngân sách lại rất cao, gần 9% GDP.

Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu:

Do chính sách tài khóa thiếu bền vững và sự mất cân đối trong việc vay nợ của các quốc gia

Sự hạn chế trong cơ chế phối hợp điều hành trong khu vực sử dụng đồng tiền chung (Eurozone), nhất là giữa tiền tệ và tài khóa. Các quốc gia trong khu vực chủ yếu hợp tác trong các chính sách tiền tệ, nhằm bảo đảm duy trì giá trị đồng Euro, trong khi các chính sách tài khóa lại chưa có được một sự đồng thuận và hài hòa tương ứng.

Việc thiếu cơ chế phối hợp ứng phó giữa các quốc gia trong khu vực. Hầu hết các quốc gia đều cố gắng thực hiện những chính sách của riêng mình và khi không thể giải cứu được nền kinh tế mới nhờ đến sự viện trợ của EU và IMF, mà không hề có những cảnh báo sớm với một chiến lược xử lý về dài hạn được đưa ra.

Giải quyết cứu vãn tình hình:

Ngày 11/7/2011, Eurozone thống nhất thành lập Cơ chế Ổn định châu Âu (ESM) nhằm cứu trợ các nền kinh tế trong khu vực thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công. Sau gần 1 năm ra đời thì đến tháng 12/2012, ESM mới chính thức được vận hành.

Châu Âu thực sự có hy vọng khi ông Mario Draghi – Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) điều chỉnh chính sách: (i) Cắt giảm mạnh lãi suất đồng Euro từ 0,75%/năm xuống còn 0,5% từ tháng 4/2013 và sau đó hạ tiếp còn 0,25%/năm ngày 7/11/2013; (ii) Mua trái phiếu của các chính phủ gặp khó khăn về nợ công; (iii) Cung ứng tiền giá rẻ cho các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản một cách trực tiếp mà không cần phải thông qua chính phủ…

Với những thay đổi lớn trong chính sách và biện pháp giải cứu, châu Âu đã vượt qua khủng hoảng nợ công và loại bỏ nguy cơ đổ vỡ khối Eurozone trong quý IV/2013 hoặc trong quý I/2014

Khu vực Eurozone cũng đang cho thấy dấu hiệu của sự phục hồi. Các số liệu được công bố vào hôm thứ 3 (14/1) cho thấy sản xuất công nghiệp của khu vực Eurozone tháng 11 tăng mạnh nhất trong gần 4 năm qua

Kinh tế Đức

Đức-nền kinh tế trụ cột của khu vực Eurozone, khiến các nhà đầu tư thất vọng khi tăng trưởng kinh tế năm 2013 đạt 0,4%, thấp nhất kể từ năm 2009.

Mặc dù có xu hướng tăng trưởng thấp, nhưng các số liệu kinh tế lại rất tích cực như tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp…Tiêu dùng cá nhân vẫn tiếp tục có xu hướng tăng và đầu tư cũng có những dấu hiệu của phục hồi

Các đơn đặt hàng công nghiệp tăng mạnh, hàng tồn kho thấp và thị trường lao động ổn định là những dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế Đức

Chỉ số quản lý mua PMI của Đức trước đây đã rất mạnh. Trong tháng Giêng, chỉ số PMI của nước này đã tăng mạnh tới mức cao nhất trong 31 tháng đạt 55,9 điểm, với chỉ số trong ngành sản xuất đạt mức tăng cao nhất trong 32 tháng là 56,3 điểm.

Kinh tế Pháp

Mặc dù nền kinh tế lớn thứ hai Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) này đã thoát khỏi tình trạng suy thoái nhẹ trong quý 2/2013, song hiện đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức như hoạt động sản xuất yếu kém và tỷ lệ thất nghiệp cao.

Bộ trưởng Tài chính Pháp Pierre Moscovici dự kiến thâm hụt ngân sách năm 2013 sẽ vào khoảng 4,1% GDP, cao hơn mức 3,9% GDP đã thỏa thuận với EU, và thâm hụt ngân sách năm 2014 sẽ là 3,6% GDP. Nước này đặt mục tiêu đưa thâm hụt về dưới 3% GDP theo quy định của EU vào năm 2015.

Pháp vẫn đang phải vận lộn để vực dậy nền kinh tế. Chỉ số PMI của Pháp được cải thiện tăng lên đến 48,8 điểm, cao hơn mức dự đoán trước đó.

Theo chuyên gia nghiên cứu Jack Kennedy của Markit, “Điểm yếu của khu vực tư nhân trong nền kinh tế Pháp đã tồn tại từ Tháng Một, khi sản lượng sản xuất giảm dù tỉ lệ giảm là nhỏ. Tuy nhiên nền kinh tế Pháp sẽ phải đối mặt với việc các đơn hàng ngày càng giảm, vấn đề việc làm và các công việc còn tồn đọng.

Kinh tế Anh

Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), kinh tế Anh tăng trưởng 1,7% trong năm 2013 và sẽ tăng 2,4% trong năm 2014

Anh đã đạt được sự tăng trưởng vững chắc trong sản xuất công nghiệp nhưng lại có vẻ khiêm tốn trong doanh số bán lẻ và chưa có nhiều biến chuyển trong ngành xây dựng.

Ngày 6/1, Bộ trưởng Tài chính Anh George Osborne tuyên bố Chính phủ Anh sẽ tiếp tục thi hành chính sách kinh tế “thắt lưng buộc bụng” trong năm 2014 nhằm giảm nợ công và thâm hụt ngân sách.

IMF nói Anh được hỗ trợ bởi điều kiện tín dụng “dễ thở” hơn và niềm tin kinh doanh cải thiện.

IMF dự báo chính sách kinh tế của chính phủ đang cho thấy hiệu quả.

Chương trình ưu đãi đặc biệt: Mở tài khoản chứng khoán Techcombank Securities với Cố vấn đầu tư cao cấp, quản lý tài sản và ủy quyền đầu tư. Chi tiết liên hệ Hotline/ Zalo/ Telegram: 0905 889 188Mo tai khoan chung khoan Techcombank so dep tu chon
Hung.MBA
Hung.MBAhttps://mbaz.net
Mình là Hung.MBA, tốt nghiệp MBA của RMIT Việt Nam. Đây là Blog cá nhân của mình. Là một doanh nhân người Việt, hiện đang đương nhiệm vai trò: CEO của HSMA | Mentor cho VDomain | Co-Founder của Lelp >>> Tự nhận thấy: - Yêu màu hồng, ghét sự giả dối. - Thích màu tím thủy chung, ghét sự cô đơn. - Sống nội tâm, hay khóc thầm và yêu bóng tối. - Thích thể thao, đam mê công nghệ. - Thích linh tinh thì làm marketing.
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin mới nhất