Ông Trần Ngọc Báu, CEO WiGroup nhận định rằng tỷ giá vẫn sẽ tiếp tục nóng do ảnh hưởng của chênh lệch lãi suất USD – VND và việc doanh nghiệp nước ngoài rút tiền về nước.
Vì sao tỷ giá tăng mạnh trong đầu năm
Tại Tọa đàm “Đạp đáy cưỡi rồng 2024” của do Chứng khoán DNSE tổ chức, ông Trần Ngọc Báu, CEO của CTCP WiGroup chia sẻ quan điểm rằng tỷ giá đang và sẽ là vấn đề nóng ngay từ đầu năm 2024.
Ông cho biết trong những ngày gần đây, sau khi sự chênh lệch giữa giá vàng SJC và thế giới quá cao thì các cơ quan thị trường, doanh nghiệp vàng đang gây sức ép để Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhập khẩu vàng, hỗ trợ thị trường và thu hẹp khoảng cách giá. Theo CEO của WiGroup, diễn biến này đã gây tác động tâm lý lên tỷ giá.
Trong khi đó, vào ngày 11/1, báo cáo của Bộ Lao động Mỹ cho thấy lạm phát ở Mỹ cao hơn so với kỳ vọng. Đồng thời, thị trường lao động của Mỹ vẫn tiếp tục mạnh mẽ, khiến cho những dự báo về việc lãi suất sớm được cắt giảm trở nên khó xảy ra hơn.

Tỷ giá đã có biến động mạnh trong những ngày đầu năm 2024.
Ngay lập tức sau báo cáo trên, tỷ giá USD đã bật tăng khá mạnh. Tỷ giá trung tâm ngày 12/1 được NHNN công bố ở mức 23.976 VND/USD, tăng 28 đồng so với mức niêm yết hôm qua. Áp dụng biên độ 5%, hiện tỷ giá USD các ngân hàng thương mại được phép giao dịch là từ 22.777 – 25.175 VND/USD.
Tỷ giá bán được Sở giao dịch nâng thêm 30 đồng, đưa phạm vi mua bán lên mức 23.400 – 25.125 VND/USD. Sáng ngày 12/1, tại ngân hàng Vietcombank, tỷ giá cũng được điều chỉnh tăng 60 đồng ở cả chiều mua và chiều bán.
Thị trường đang chủ quan
Ông Báu cho rằng thị trường đang khá chủ quan trước câu chuyện tỷ giá: “Nếu đọc báo chí thì có thể thấy các chuyên gia đầu ngành đều cho rằng tỷ giá đã thông rồi, không cần lo lắng… Tuy nhiên, có hai vấn đề cần chú ý và quan sát sâu”, ông nhấn mạnh.
Thứ nhất, ngay cả khi Mỹ giảm lãi suất theo vào cuối quý I, đầu quý II/2024 như thị trường kỳ vọng thì đến cuối năm 2024, lãi suất liên ngân hàng qua đêm ở Mỹ vẫn duy trì ở khoảng 4,5%. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng ở Việt Nam đang ở mức 0 đến 0,25%.
“Cứ cho rằng cả năm 2024 lãi suất liên ngân hàng lên khoảng hơn 1,5% thì chênh lệch giữa lãi suất VND và USD vẫn chênh nhau khoảng 2,5 đến 3 điểm %”, ông Báu nói thêm.

Chênh lệch lãi suất USD – VND đang ở khoảng 5 điểm %.
Thứ hai là việc rút ròng khá mạnh của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Ông Báu cho biết trong năm 2023, cả đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) đều có sự rút ròng. Quy mô rút ròng của FII khá nhỏ, chỉ khoảng 1 tỷ USD.
Tuy nhiên, “tiền gửi và huy động vốn của doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam đang bị rút rất mạnh”, ông cảnh báo. Chuyên gia cho biết trong quý III/2023, các doanh nghiệp nước ngoài đã rút tiền rất mạnh, tương tự như giai đoạn quý III/2022.
Cán cân vãng lai trong quý III năm ngoái lại có sự phục hồi, giúp cân bằng lại dòng tiền bị rút ra. Trong đó, xuất khẩu năm 2023 suy giảm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp khó khăn, nhưng nhập khẩu thậm chí còn giảm mạnh hơn, khiến thặng dư đạt kỷ lục.
CEO WiGroup cảnh báo sang năm 2024, khi nhập khẩu và tiêu dùng trong nước có sự phục hồi nhẹ thì sức ép lên cán cân thương mại sẽ lớn hơn và khó có thể duy trì mức thặng dư kỷ lục như 2023.Chênh lệch lãi suất cao sẽ tiếp tục gây áp lực tỷ giá, đặc biệt trong giai đoạn đầu năm.
Từ những yếu tố trên, ông Báu dự báo đầu năm 2024 sẽ có áp lực tỷ giá, đến quý III/2024 áp lực nhẹ. Tuy nhiên trong cả năm, tỷ giá vẫn sẽ nằm trong khoảng mà NHNN mong muốn, với mức mất giá khoảng 2 – 3%. Ngoài ra, ông kỳ vọng dự trữ ngoại hối có thể tăng khoảng 5 tỷ USD, tương đương như trong năm ngoái.
Kết hợp với dự báo về lạm phát nóng hơn trong năm nay, ông Báu cho rằng “khó có thể kỳ vọng giai đoạn bùng nổ về thanh khoản, về tiền trong năm 2024”.
Thị trường đang “tự mãn” trước những rủi ro của trái phiếu cấp đầu cơ
Một số nhà kinh tế cảnh báo, thị trường trái phiếu cấp đầu cơ đã trở nên “tự mãn” trước những rủi ro mà các công ty Mỹ phải đối mặt sau khi chi phí phát hành trái phiếu giảm mạnh, trong khi lãi suất cao và khả năng suy thoái kinh tế vẫn là mối đe dọa đối với những người đi vay nợ có mức xếp hạng tín nhiệm thấp.
Sự phục hồi chóng mặt trên thị trường tài chính với kỳ vọng cắt giảm lãi suất nhanh chóng vào cuối năm nay đã khiến chi phí đi vay của các công ty giảm mạnh trong những tháng gần đây. Theo dữ liệu của Ice BofA, ngay cả sau khi đảo chiều một phần trong vài ngày đầu tháng 1, lợi suất trung bình của chỉ số trái phiếu cấp đầu cơ của Mỹ vẫn dao động ở mức khoảng 8%, thấp hơn nhiều so với mức 9,4% vào đầu tháng 11.
Sự thay đổi mạnh mẽ trong tâm lý đó đã làm dấy lên mối lo ngại của một số chiến lược gia rằng thị trường đã đạt đến vùng quá lạc quan. Các công ty vẫn phải đối mặt với chi phí tài chính cao hơn nhiều so với hai năm trước, khả năng suy thoái kinh tế kéo dài làm ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận cũng như chi phí tiền lương tăng cao.
![]() |
|
Lợi suất trái phiếu doanh nghiệp xếp hạng cấp đầu cơ ở Mỹ |
Torsten Slok, nhà kinh tế trưởng tại công ty đầu tư Apollo cho biết: “Thị trường đang giao dịch như thể lãi suất bằng 0 đã quay trở lại, nhưng thực tế là không”.
Chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu Kho bạc của những người đi vay được xếp hạng cấp đầu cơ để phát hành khoản nợ mới cũng đã giảm kể từ ngày 1/11, từ 4,47 điểm phần trăm xuống còn 3,5 điểm phần trăm.
Theo phân tích của Marty Fridson, Giám đốc đầu tư của Lehmann, Livian, Fridson Advisors, con số này thấp hơn nhiều so với con số trung bình lần lượt là 4,55 điểm phần trăm và 8,39 điểm phần trăm trong những tháng không suy thoái trong lịch sử và những tháng suy thoái kể từ năm 1996.
Kevin Loome, nhà quản lý danh mục đầu tư lợi suất cao tại T Rowe Price cho biết: “Tôi thực sự nghĩ rằng thị trường đang hơi tự mãn… đợt phục hồi này được thúc đẩy bởi nhiều nhà đầu tư trái phiếu chỉ đơn giản là tìm thấy lợi suất 8% đối với trái phiếu cấp đầu cơ và thậm chí cao hơn, chúng ở mức thực sự hấp dẫn”.
Chi phí tài chính giảm phản ánh niềm tin ngày càng tăng của các nhà đầu tư rằng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã hoàn thành chu kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ, sau khi tăng lãi suất từ gần 0 vào đầu năm 2022 lên phạm vi 5,25 đến 5,5% trong nỗ lực kiềm chế lạm phát.
Niềm tin của các nhà đầu tư đã tăng lên vào giữa tháng 12 khi các nhà hoạch định chính sách của Fed đưa ra tín hiệu mạnh mẽ nhất về việc tăng lãi suất đã kết thúc và chỉ ra ba đợt cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản vào năm 2024. Đáp lại, các nhà đầu tư đổ tiền vào trái phiếu chính phủ Mỹ và các loại tài sản rủi ro hơn.
“Quý 4 vừa qua là một cú sốc đối với mọi người về mức độ phục hồi mạnh mẽ của thị trường”, ông Kevin Loome cho biết.
Theo báo cáo của S&P Global Market Intelligence, những lo ngại xuất hiện khi dữ liệu mới trong tuần này cho thấy số vụ phá sản doanh nghiệp ở Mỹ đã đạt mức cao nhất trong 13 năm vào năm 2023 với tổng cộng 642 hồ sơ và 50 hồ sơ chỉ riêng trong tháng 12.
Các nhà phân tích của S&P viết: “Mặc dù các nhà đầu tư kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất sớm nhất là vào tháng 3, nhưng các công ty vẫn sẽ phải đối mặt với mức lãi suất tương đối cao và mức tăng lương mạnh mẽ trong thời gian tới”.
“Sự gia tăng các vụ phá sản và tỷ lệ vỡ nợ vào năm ngoái là một lời nhắc nhở rất quan trọng rằng chi phí vốn rất quan trọng… Vẫn còn rất nhiều công ty được thành lập trong thời kỳ tiền rẻ, sẽ vẫn dễ bị tổn thương trước chi phí vốn ở mức cao”, nhà kinh tế trưởng Torsten Slok cho biết.
Các nhà phân tích cũng nhấn mạnh, sự mâu thuẫn rõ ràng giữa kỳ vọng của thị trường tương lai về việc Mỹ sẽ cắt giảm lãi suất gần 6 lần trong năm nay và sự lạc quan của thị trường trái phiếu doanh nghiệp về triển vọng của những người đi vay được xếp hạng cấp đầu cơ.
Trong khi dự báo của Fed về 3 lần cắt giảm lãi suất báo hiệu niềm tin rằng họ có thể đạt được “hạ cánh mềm” – dập tắt lạm phát mà không gây ra suy thoái – thì nhu cầu cắt giảm lãi suất nhiều hơn thường phản ánh sự suy thoái lớn hơn trong điều kiện kinh tế.
Ngược lại, một kịch bản như vậy sẽ có khả năng gây thêm tổn thất cho các công ty Mỹ được xếp hạng thấp với dòng tiền vốn đã yếu.
“Tôi thực sự nghĩ rằng thị trường đang tự mãn, bởi vì hai kịch bản còn lại bao gồm hạ cánh cứng hoặc nền kinh tế không suy thoái vẫn không khó xảy ra. Ngân hàng trung ương sẽ không cắt giảm lãi suất 6 lần trừ khi nền kinh tế đang chậm lại khá mạnh. Nếu Fed cắt giảm 6 lần… các nguyên tắc cơ bản sẽ trông như thế nào? Lợi nhuận sẽ như thế nào?”, nhà kinh tế trưởng Torsten Slok cho biết.




