hợp đồng tương lai, thị trường phái sinh
hợp đồng tương lai, thị trường phái sinh
Xem thêm

Gần đây trong chương trình CFO có chủ đề nói về thị trường tương lai (Futures Market) hay cũng có thể hiểu là hợp đồng tương lai Futures Contract. Trong bài viết này, Tôi sẽ nói thêm về chủ đề này từ định nghĩa, nguồn gốc, sự phát triển và ứng dụng cũng như các chiêu trò, mánh khóe trên thị trường Futures, mời các bạn cùng tham khảo.

Đầu tiên, Tôi sẽ dẫn chứng định nghĩa và nguồn gốc của Futures Market từ wikipedia cho chính thống trước.

Nội dung chính

Hợp đồng tương lai

Trong lĩnh vực tài chính, hợp đồng tương lai (futures contract) là một hợp đồng chuẩn hóa giữa hai bên nhằm trao đổi một tài sản cụ thể có chất lượng và khối lượng chuẩn hóa với giá thỏa thuận hôm nay (gọi là giá tương lai (futures price) hay giá xuất phát) nhưng lại giao hàng vào một thời điểm cụ thể trong tương lai (ngày giao hàng). Các hợp đồng này được giao dịch thông qua sàn giao dịch tương lai (futures exchange). Một bên đồng ý mua tài sản cơ sở trong tương lai, hay “bên mua” trong hợp đồng, gọi là “trường vị” (long), còn một bên đồng ý bán trong tương lai, hay “bên bán” trong hợp đồng, gọi là “đoản vị” (short). Thuật ngữ trên phản ánh kỳ vọng của các bên – người bán hy vọng giá hàng hóa sẽ giảm, còn người mua hy vọng giá hàng hóa sẽ tăng. Lưu ý rằng tự bản thân hợp đồng không tốn phí khi ký kết; thuật ngữ mua/bán chỉ là công cụ ngôn ngữ thuận tiện để phản ánh vị thế của các bên (trường vị hoặc đoản vị).

Trong nhiều trường hợp, tài sản cơ sở trong hợp đồng tương lai có thể hoàn toàn không phải là “hàng hóa” truyền thống – nghĩa là, đối với hợp đồng tài chính tương lai, tài sản hoặc mặt hàng cơ sở có thể là các loại tiền tệ, chứng khoán hay công cụ tài chính và tài sản vô hình hoặc các khoản mục tham chiếu như chỉ số chứng khoán và lãi suất.

Trong khi hợp đồng tương lai nói đến việc mua bán trong tương lai thì mục đích của sở giao dịch tương lai là giảm thiểu rủi ro phá vỡ hợp đồng giữa hai bên. Do đó, việc mua bán đòi hỏi cả hai bên đặt cọc một khoản tiền ban đầu, gọi là tiền ký quỹ (hay “biên”, margin). Ngoài ra, thông thường do giá tương lai thay đổi hàng ngày nên mức chênh lệch giữa giá đã ấn định trước và giá tương lai mỗi ngày cũng được tính toán lại mỗi ngày. Trung tâm giao dịch sẽ rút tiền trong tài khoản ký quỹ của một bên và chuyển vào tài khoản của bên kia, sao cho mỗi bên sẽ nhận được khoản lãi hay lỗ thích hợp mỗi ngày. Nếu tài khoản ký quỹ xuống thấp hơn một giá trị nào đó thì người ta sẽ yêu cầu thêm khoản ký quỹ (gọi là “gọi vốn biên”) và chủ sở hữu sẽ phải bổ sung thêm tiền vào tài khoản này. Quy trình này gọi là neo giá thị trường (marking to the market). Do đó, vào ngày giao hàng, số tiền mua bán không phải theo giá ghi trong hợp đồng mà là giá trị giao ngay (do mọi khoản lãi và lỗ trước đó đã được thanh quyết toán thông qua quá trình neo giá thị trường).

Một dạng hợp đồng gần gũi với hợp đồng tương lai là hợp đồng kỳ hạn. Hợp đồng kỳ hạn giống như hợp đồng tương lai ở chỗ trong đó nêu rõ cuộc mua bán hàng hóa với mức giá cụ thể tại một thời điểm cụ thể trong tương lai. Tuy nhiên, hợp đồng kỳ hạn không giao dịch thông qua một sàn giao dịch nên không nhất thiết phải tạm thời thanh toán từng phần thông qua neo giá thị trường. Hợp đồng cũng không cần chuẩn hóa như trên sàn giao dịch nhưng phải rõ hai đối tác mua bán trong khi hợp đồng tương lai được giao dịch thông qua sở giao dịch nên bên bán không nhất thiết cần phải biết bên mua là ai và ngược lại.

Không giống như hợp đồng quyền chọn, cả hai bên trong hợp đồng tương lai đều phải thực hiện hợp đồng vào ngày giao hàng. Người bán giao hàng hóa hữu quan cho người mua, hoặc nếu đó là một hợp đồng tương lai thanh toán bằng tiền thì tiền sẽ được chuyển từ thương nhân chịu lỗ đến thương nhân có lãi. Để thoát khỏi giao kết trước ngày thanh toán, người giữ một vị thế tương lai có thể kết thúc các nghĩa vụ hợp đồng của mình bằng cách nắm lấy vị thế ngược lại trong một hợp đồng tương lai khác đối với cùng tài sản đó vào cùng một ngày thanh toán. Chênh lệch trong các mức giá tương lai khi đó là lãi hay lỗ.

Nguồn gốc

Aristotle kể chuyện về Thales, một triết gia nghèo ở vùng Miletus, người đã phát triển một “công cụ tài chính, trong đó bao gồm một nguyên lý áp dụng toàn cầu”. Thales sử dụng kỹ năng của mình để dự đoán rằng vụ thu hoạch ô liu vào mùa thu năm sau sẽ bội thu. Tự tin với phán đoán của mình, Thales đã thỏa thuận với người sở hữu máy ép ô liu để đảm bảo rằng ông sẽ được độc quyền sử dụng những máy móc đó khi bắt đầu vụ thu hoạch. Thales thành công khi đàm phán với mức giá thấp bởi vì vẫn chưa đến vụ thu hoạch và không ai biết vụ thu hoạch đó có tốt hay không, hơn nữa chủ sở hữu máy ép ô liu cũng muốn giảm rủi ro đối với một vụ mùa thất bát. Khi đến vụ thu hoạch, ngay lập tức rất nhiều người cùng lúc cần đến máy ép, ông đã cho thuê với bất cứ mức giá nào mà ông thích và thu được rất nhiều tiền.

Thị trường giao dịch tương lai đầu tiên tên là Trung tâm Giao dịch Lúa gạo Dōjima ở Nhật Bản vào những năm 1730 nhằm đáp ứng nhu cầu của các võ sĩ đạo – vốn nhận lương bằng gạo, và sau một vụ mùa thất bát – lại cần đến mức chuyển đổi hợp lý từ gạo ra tiền.

Vào năm 1864, Hội đồng Thương mại Chicago (Chicago Board of Trade – CBOT) liệt kê những hợp đồng kỳ hạn đầu tiên đã được chuẩn hóa để ‘giao dịch’, gọi là hợp đồng tương lai. Hợp đồng này dựa trên việc trao đổi ngũ cốc và cho thấy một xu hướng theo đó những hợp đồng này sẽ trao đổi nhiều loại hàng hóa khác nhau cũng như số lượng đa dạng các hợp đồng tương lai tại các quốc gia trên thế giới. Tính đến năm 1875, mặt hàng bông đã được đưa vào trao đổi ở Mumbai, Ấn Độ, và trong một vài năm người ta đã mở rộng phạm vi giao dịch tới hỗn hợp hạt dầu để ăn, đay thô và đay hàng hóa cùng với vàng thỏi.

Biên – Tiền ký quỹ

Để giảm thiểu rủi ro tín dụng cho sàn giao dịch, các thương nhân phải chuyển một khoản tiền biên (biên tế, tiền ký quỹ) hoặc một khoản tiền bảo đảm thực hiện hợp đồng, thường bằng 5%-15% giá trị hợp đồng.

Để giảm thiểu rủi ro đối tác đối với các thương nhân, các giao dịch thực hiện trên các sàn giao dịch tương lai được điều chỉnh được đảm bảo bằng một ngân hàng thanh toán bù trừ. Ngân hàng thanh toán bù trừ này trở thành người mua đối với mỗi người bán, và là người bán đối với mỗi người mua, vì thế trong trường hợp bội ước phía đối tác thì ngân hàng phải gánh rủi ro thua lỗ vào mình. Điều này cho phép các thương nhân giao dịch mà không cần phải thực hiện việc thẩm định về đối tác của mình.

Các yêu cầu biên được từ bỏ hoặc giảm trong một số trường hợp cho các nhà tự bảo hiểm (hedger) có quyền sở hữu vật chất đối với hàng hóa được bảo chứng hoặc cho các thương nhân chênh lệch giá có các hợp đồng bù trừ làm cân bằng vị thế.

Biên bù trừ (clearing margin) là các biện pháp bảo vệ tài chính để bảo đảm rằng các công ty/doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng tương lai hay hợp đồng quyền chọn còn trạng thái mở đối với khách hàng của họ. Các biên bù trừ khác với các biên khách hàng là khoản tiền biên mà mỗi người bán hay mỗi người mua các hợp đồng tương lai/hợp đồng quyền chọn phải đặt cọc/ký quỹ với các nhà môi giới.

Biên khách hàng (customer margin): Trong lĩnh vực hợp đồng tương lai, các đảm bảo tài chính được yêu cầu đối với cả người bán và người mua của các hợp đồng tương lai và đối với người bán của các hợp đồng quyền chọn để bảo đảm cho việc hoàn thành các nghĩa vụ đối với hợp đồng. Các thương nhân ủy thác hợp đồng tương lai chịu trách nhiệm giám sát các tài khoản biên khách hàng. Các mức biên này được xác định trên cơ sở rủi ro thị trường và giá trị hợp đồng. Nó còn được gọi là biên bảo đảm thực hiện hợp đồng.

Biên khởi đầu (initial margin) là giá trị vốn chủ sở hữu bắt buộc phải có để khởi đầu một vị thế hợp đồng tương lai. Nó là một kiểu bảo đảm thực hiện hợp đồng. Rủi ro tổn thất tối đa không bị giới hạn trong phạm vi giá trị của biên khởi đầu, tuy nhiên yêu cầu về biên khởi đầu được tính toán dựa trên thay đổi ước tính tối đa về giá trị hợp đồng trong một ngày giao dịch. Biên khởi đầu được sàn giao dịch thiết lập.

Nếu một vị thế bao gồm một sản phẩm giao dịch trao đổi, giá trị hoặc phần trăm biên khởi đầu được thiết lập bởi sàn giao dịch có liên quan.

Trong trường hợp thua lỗ hoặc nếu giá trị của biên khởi đầu xuống thấp hơn một mức nhất định thì nhà môi giới sẽ thực hiện gọi biên để phục hồi giá trị của biên khởi đầu khả dụng. Thường được nói đến như là “biên biến đổi” (variation margin), biên được gọi vì lý do này thường được thực hiện trên cơ sở mỗi ngày, tuy nhiên, trong thời gian xảy ra biến động mạnh thì nhà môi giới có thể thực hiện gọi một biên/nhiều biên trong ngày.

Các gọi biên thường được dự kiến là được trả/nhận trong cùng một ngày. Nếu không thì nhà môi giới có quyền đóng đủ lượng vị thế của khách hàng để đạt được giá trị như có được bằng cách gọi biên. Sau khi vị thế bị đóng lại thì khách hàng tự chịu trách nhiệm đối với bất kỳ thiếu hụt nào phát sinh trong tài khoản của mình do bị đóng vị thế.

Một vài sàn giao dịch tại Hoa Kỳ cũng sử dụng thuật ngữ “biên duy trì” (maintenance margin), được xác định theo mức mà giá trị của biên khởi đầu có thể giảm xuống trước khi gọi biên được thực hiện. Tuy nhiên, phần lớn các nhà môi giới phi-Hoa Kỳ chỉ sử dụng các thuật ngữ “initial margin” và “variation margin”.

Yêu cầu về biên khởi đầu được sàn giao dịch hợp đồng tương lai thiết lập, ngược lại với biên khởi đầu của các loại chứng khoán khác (như tại thị trường Hoa Kỳ là do Cục Dự trữ Liên bang thiết lập).

Tài khoản hợp đồng tương lai được neo giá theo thị trường mỗi ngày (thường là giá đóng cửa cuối ngày giao dịch). Nếu như biên rơi xuống dưới mức quy định của duy trì biên do sàn giao dịch niêm yết hợp đồng tương lai thiết lập thì một gọi biên sẽ được phát hành để đưa tài khoản trở lại mức được quy định.

Biên duy trì (Maintenance margin): Mức biên tối thiểu thiết lập cho hợp đồng tương lai còn vị thế mở mà khách hàng phải duy trì trong tài khoản biên của họ.

Tỷ suất biên-vốn chủ sở hữu (Margin-equity ratio) là thuật ngữ được các nhà đầu cơ sử dụng, tương ứng với phần giá trị trong vốn kinh doanh của họ phải giữ ở tài khoản biên vào bất kỳ thời gian cụ thể nào. Các yêu cầu biên thấp đối với các hợp đồng tương lai tạo ra mức đòn bẩy đáng kể của việc đầu tư. Tuy nhiên, các sàn giao dịch luôn yêu cầu một giá trị tối thiểu phụ thuộc vào từng loại hợp đồng và từng loại thương nhân. Nhà môi giới có thể thiết lập yêu cầu cao hơn, nhưng không thể thiết lập thấp hơn. Tất nhiên, thương nhân có thể thiết lập yêu cầu biên cao hơn các mức biên của sàn giao dịch hay của nhà môi giới, nếu như ông/bà ta không muốn bị gọi biên liên tục.

Biên bảo đảm thực hiện hợp đồng (Performance bond margin): Số tiền mà cả người bán lẫn người mua của một hợp đồng tương lai hoặc người bán của hợp đồng quyền chọn phải ký quỹ để đảm bảo thực hiện các điều kiện của hợp đồng. Biên trong giao dịch hàng hóa không phải là một khoản thanh toán vốn chủ sở hữu hay một khoản thanh toán trước đối với chính hàng hóa ấy, mà đúng hơn thì nó là một khoản ký quỹ bảo chứng.

Doanh lợi biên (Return on margin, viết tắt: ROM) thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh do nó thể hiện mức lãi hay lỗ khi so với rủi ro cảm nhận được của sàn giao dịch như được phản ánh trong biên cần phải có. ROM có thể được tính toán như là tỷ suất của doanh lợi thu được trên biên khởi đầu. ROM niên hóa tương đương với (ROM + 1)(năm/khoảng_thời_gian_giao_dịch)-1. Chẳng hạn, nếu một thương nhân kiếm được ROM bằng 10% trên biên trong 2 tháng, thì ROM niên hóa sẽ khoảng 77%.

Quyết toán

Quyết toán là hành động hoàn thành/kết thúc hợp đồng, và có thể được thực hiện theo một trong hai cách, như được định rõ cho từng loại hợp đồng tương lai.

  • Giao hàng vật chất – số lượng tài sản cơ sở được ghi trong hợp đồng được người bán của hợp đồng giao cho sàn giao dịch, hoặc là số lượng tài sản cơ sở được ghi trong hợp đồng được sàn giao dịch giao cho người mua của hợp đồng. Giao hàng vật chất là phổ biến đối với hàng hóa và trái phiếu. Trên thực tế, nó chỉ xảy ra đối với một số ít các hợp đồng. Phần lớn các hợp đồng được triệt tiêu bằng việc mua một vị thế bảo chứng – nghĩa là mua vào một hợp đồng để triệt tiêu một hợp đồng bán trước đó (đóng đoản vị/đóng vị thế bán khống), hoặc bán ra một hợp đồng để thanh lý một hợp đồng mua trước đó (đóng trường vị). Các hợp đồng tương lai dầu thô giao dịch tại NYMEX sử dụng phương thức này để quyết toán khi đáo hạn.
  • Thanh toán tiền – một khoản thanh toán bằng tiền được thực hiện dựa theo giá của tài sản cơ sở dùng làm tham chiếu, chẳng hạn chỉ số lãi suất ngắn hạn hoặc giá trị lúc đóng cửa của một chỉ số thị trường chứng khoán. Các bên quyết toán bằng việc chi trả/nhận số tiền thua lỗ/số tiền lãi liên quan tới hợp đồng bằng tiền khi hợp đồng đáo hạn. Các hợp đồng tương lai thanh toán bằng tiền là những hợp đồng mà trên thực tế không thể quyết toán bằng việc giao mặt hàng tham chiếu, chẳng hạn như người ta không thể giao nhận một chỉ số. Một hợp đồng tương lai cũng có thể lựa chọn quyết toán so với một chỉ số dựa trên giao dịch trên thị trường giao ngay có liên quan. Các hợp đồng tương lai dầu Brent giao dịch tại ICE sử dụng phương thức này.

Đáo hạn là thời gian và ngày mà tháng giao hàng cụ thể của hợp đồng tương lai ngừng giao dịch, cũng như giá quyết toán cuối cùng cho hợp đồng đó. Đối với nhiều hợp đồng tương lai về chỉ số chứng khoán hay lãi suất cũng như phần lớn các hợp đồng quyền chọn cổ phiếu, điều này xảy ra vào ngày Thứ Sáu lần thứ ba của các tháng giao dịch nhất định. Vào ngày này thì hợp đồng tương lai t+1 trở thành hợp đồng tương lai t. Ví dụ, đối với phần lớn các hợp đồng của CME và CBOT, vào lúc đáo hạn hợp đồng tháng 12 thì hợp đồng tương lai Tháng Ba (năm sau) trở thành hợp đồng gần nhất. Đây là khoảng thời gian sôi động cho các nhà kinh doanh acbit (cơ lợi), là những người cố gắng kiếm lãi nhanh trong khoảng thời gian ngắn (có thể chỉ kéo dài khoảng 30 phút) mà khi đó giá tiền ngay và giá hợp đồng tương lai của tài sản cơ sở đôi khi không hội tụ. Vào khoảng thời gian này các hợp đồng tương lai và tài sản cơ sở có tính thanh khoản cực kỳ cao và bất kỳ khác biệt nào giữa một chỉ số và một tài sản cơ sở đều nhanh chóng bị các nhà kinh doanh acbit giao dịch nhanh chóng. Cũng vào khoảng thời gian này sự gia tăng khối lượng giao dịch là do các thương nhân tái đầu tư các vị thế sang hợp đồng kế tiếp, hoặc như trong trường hợp các hợp đồng tương lai về chỉ số chứng khoán là việc mua các thành phần tài sản cơ sở của các chỉ số này để phòng hộ cho các vị thế chỉ số hiện tại. Chẳng hạn, vào ngày đáo hạn thì một bàn giao dịch acbit chứng khoán châu Âu tại Luân Đôn hay Frankfurt sẽ theo dõi các vị thế đáo hạn với quy mô lớn tới mức 8 thị trường chính gần như là sau mỗi nửa giờ.

Hợp đồng tương lai là gì?

Thị trường tương lai là nơi giao dịch các hợp đồng tương lai về hàng hóa và các công cụ tài chính chứng khoán. Tại thị trường này hoạt động đầu cơ được tiến hành nhằm bảo vệ các bên tham gia giao dịch trong điều kiện bất lợi hoặc biến động về giá cả trên thị trường.

Hợp đồng tương lai là gì?

Hợp đồng Tương lai (Futures Contract) là một ký kết thỏa thuận ràng buộc pháp lý giữa bên mua và bên bán, nhằm trao đổi một loại tài sản có chất lượng cụ thể và giá thỏa thuận trong hôm nay. Tuy nhiên các bên tham gia bắt buộc phải giao dịch tài sản vào một ngày được xác định trước trong tương lai với mức giá đã định cho dù giá có biến đổi như thế nào vào ngày hết hạn. Chính vì thế mà hợp đồng tương lai được sử dụng để phòng ngừa biến động giá, giúp ngăn ngừa tổn thất do sự bất lợi thay đổi giá.

Các khái niệm của thị trường Futures

Khái niệm Giải thích
Hợp đồng tương lai Là thỏa thuận giữa bên mua và bên bán về một giao dịch diễn ra trong tương lai với mức giá được xác định trước.
Tài sản cơ sở Là đối tượng được thỏa thuận trong hợp đồng phái sinh.
Ký quỹ  Khoản đặt cọc để tham gia giao dịch chứng khoán phái sinh, đóng vai trò đảm bảo khả năng thanh toán của hai bên hợp đồng.
Vị thế Trạng thái giao dịch và khối lượng của hợp đồng phái sinh mà nhà đầu tư hiện đang nắm giữ.
Đóng vị thế Mở một vị thế đối ứng với một vị thế đang nắm giữ có cùng tài sản cơ sở và ngày đáo hạn.
Giá thanh toán cuối ngày Mức giá của hợp đồng phái sinh được dùng để tính toán giá trị lãi/lỗ phát sinh trong ngày của từng hợp đồng.
Giá thanh toán cuối cùng Mức giá của tài sản cơ sở được xác định vào ngày giao dịch cuối cùng của chứng khoán phái sinh dựa trên tài sản cơ sở đó, dùng để tính t oán giá trị lãi/lỗ phát sinh trong ngày giao dịch cuối cùng của hợp đồng.
Hệ số nhân hợp đồng Hệ số quy đổi giá trị của Hợp đồng tương lai chỉ số thành tiền.
Khối lượng mở Số lượng hợp đồng của một loại Chứng khoán phái sinh đang còn tồn tại ở một thời điểm.

Tại sao nên giao dịch hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai giao dịch dễ dàng

Hợp đồng tương lai tỷ lệ đòn bẩy cao

Giao dịch hợp đồng tương lai

Ảnh mô tả cơ chế giao dịch HĐTL

Những chiêu trò trên thị trường Futures

Từ chỗ khống chế gần như hoàn toàn các giao dịch trên thị trường hợp đồng tương lai chỉ số VN30 Index (thị trường Futures), các nhà đầu tư (NĐT) cá nhân đang dần thu nhỏ tỷ trọng, còn NĐT nước ngoài và khối tự doanh các công ty chứng khoán (CTCK) không giao dịch nhiều, nhưng đang có sự gia tăng đáng kể thị phần của các tổ chức trong nước.


Quy mô thị trường tăng mạnh

Futures khởi động ngày 10-8-2017, một dấu mốc quan trọng đối với thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam khi có thêm một công cụ đầu tư/đầu cơ mới. Nhưng quan trọng hơn, thị trường này là một phần phải có đối với các TTCK phát triển, vì hình thành một công cụ phòng vệ lẫn đầu cơ cho các NĐT ở mọi điều kiện biến động. Nếu như trước đây mỗi khi thị trường giá xuống, NĐT chỉ có lựa chọn duy nhất là bán hết cổ phiếu (CP) và cầm tiền mặt, thì với Futures, NĐT có thể tìm kiếm lợi nhuận cả khi thị trường giảm, cũng như không cần phải bán hết CP vì đã có thể phòng vệ cho danh mục.

Tuy nhiên, một thị trường Futures muốn phát huy đầy đủ các tính năng cần một độ sâu (có thể hiểu là thanh khoản cực cao hàng ngày) nhất định để các NĐT lớn có khả năng giao dịch. Chẳng hạn khi muốn phòng vệ cho danh mục CP bằng cách bán (Short) khối lượng hàng ngàn hợp đồng, thì thị trường Futures phải có khả năng hấp thụ được khối lượng hợp đồng đó mà không bị ảnh hưởng quá nhiều đến giá. Chính vì vậy các thị trường Futures sơ khai thường không hấp dẫn các tổ chức đầu tư lớn, mà chỉ là sân chơi đầu cơ của các NĐT nhỏ.

Theo thống kê, đến tháng 9-2018, tức tròn 1 năm thị trường Futures vận hành, số tài khoản giao dịch đạt 50.956 tài khoản, nhưng 99% lượng giao dịch hàng ngày thuộc về các NĐT cá nhân. NĐT nước ngoài chỉ chiếm 0,22%, các tổ chức đầu tư trong nước, bao gồm cả khối tự doanh CTCK, chỉ chiếm 0,55%. Phiên thanh khoản duy nhất vượt 10.000 tỷ đồng giá trị danh nghĩa là ngày 30-5-2018.
Những chiêu trò trên thị trường Futures ảnh 1
Nhưng chỉ trong 2 năm kế tiếp, đến tháng 10-2020, quy mô thị trường Futures đã tăng trưởng vượt bậc. Số lượng tài khoản phái sinh được mở đã lên tới 154.116, tức gấp 3 lần thời điểm tháng 9-2018. Đặc biệt 10 tháng đầu năm 2020, số lượng tài khoản mới là 62.762, chiếm 61% số lượng tài khoản mới trong 2 năm gần nhất.

Số lượng tài khoản mới đầu tư Futures tăng vọt có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất, trào lưu mở tài khoản đầu tư chứng khoán nói chung (đầu tư CP) cũng nở rộ trong năm 2020. Dịch Covid-19 và sự tăng trưởng của TTCK đã thu hút một lượng rất lớn NĐT mới. Với NĐT, Futures được xem như một phương thức đầu tư bình thường, nên khi mở tài khoản CP có thể mở luôn cả tài khoản Futures.

Thứ hai, sau 3 năm hoạt động thị trường Futures đã trở nên quen thuộc với cộng đồng NĐT, cũng như các kiến thức về giao dịch trên thị trường này được phổ cập. NĐT có thể dễ dàng tiếp cận và giao dịch mà không hề bị “khớp” như giai đoạn 1-2 năm đầu tiên.

Thứ ba, quan trọng nhất là sự tham gia của NĐT tổ chức. Thời gian đầu, tổ chức đầu tư chính trên thị trường Futures chỉ là khối tự doanh của những CTCK cung cấp dịch vụ này, và một số quỹ đầu tư ETF sử dụng Futures như một kênh phòng vệ trong các thời điểm tái cơ cấu danh mục chỉ số. Khi mức thanh khoản trên thị trường Futures gia tăng, các quỹ đầu tư hoặc tổ chức đầu tư khác đã có thể sử dụng chiến lược giao dịch năng động (đầu cơ ngắn hạn) và phòng vệ danh mục CP lớn, nên mức độ tham gia của các tay chơi lớn này cũng nhiều hơn. Thị trường Futures cũng đón nhận sự tham gia của các quỹ thành viên, các nhóm đầu tư quy mô lớn.

Một thống kê có thể thấy sự tăng trưởng quy mô thanh khoản của thị trường Futures: Năm 2019, khối lượng giao dịch bình quân khoảng 88.740 hợp đồng/phiên, tăng 12,6% so với năm 2018, thì 10 tháng đầu năm 2020, thanh khoản bình quân đã tăng gần gấp đôi 2019. Mức thanh khoản kỷ lục năm 2019 là 191.707 hợp đồng, chỉ còn là con số rất nhỏ so với kỷ lục 356.033 hợp đồng tại phiên ngày 29-7-2020.

Theo thông tin từ Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (đơn vị vận hành thị trường Futures), mức tăng trưởng thanh khoản nói trên là con số mà nhiều thị trường phát triển từng phải mất nhiều năm mới đạt được. Như Sở Giao dịch Hợp đồng tương lai Đài Loan (TAIFEX) phải mất 13 năm, Sở Giao dịch chứng khoán phái sinh Thái Lan (TFEX) phải mất  hơn 7 năm.

Đặc biệt, sự tham gia của các tổ chức đầu tư trong nước đang tăng trưởng rất nhanh. Nếu như thời điểm tháng 9-2019, tới 99% giao dịch Futures hàng ngày là của NĐT cá nhân, NĐT tổ chức (cả tự doanh), chỉ chiếm 0,55%, thì đến tháng 10-2020, giao dịch của tổ chức trong nước đã chiếm 13,45% và cá nhân chiếm 85,5%.

Nhiều chiêu trò phái sinh

Quy mô thị trường phái sinh càng lớn về lý thuyết tính hiệu quả càng cao. Một thị trường hiệu quả là giá phản ánh đầy đủ thông tin và khả năng thao túng rất thấp. Tuy nhiên, đối với thị trường Futures của Việt Nam, sự tham gia ngày càng nhiều của các tổ chức đầu tư dường như lại khiến thị trường càng xuất hiện nhiều chiêu trò làm méo mó các giao dịch.

Hoạt động phòng vệ danh mục CP trên thị trường Futures không phải là vấn đề lớn, vì các tổ chức có nhu cầu này phần lớn giao dịch thụ động, hoặc chỉ ảnh hưởng một thời điểm (như đảo danh mục ETF). Còn thị phần tự doanh ở các CTCK cũng rất nhỏ, bình quân chỉ 1,41% trong 10 tháng đầu 2020. Song với các tay chơi lớn năng động nhất trên thị trường Futures hiện tại là các nhóm đầu cơ khác nhau hoạt động hàng ngày. Theo đó, các “đội lái” Futures có khả năng giao dịch quy mô lớn (có thể tới hàng ngàn hợp đồng) thông qua nhiều tài khoản.

NĐT có thể dễ dàng nhận thấy những biến động khác thường trên thị trường Futures như mức chênh lệch cơ sở (basis) rất rộng, theo cả hướng giá Futures cao hơn hay thấp hơn chỉ số VN30 Index. Phổ biến nhất trong thời gian gần đây là hiện tượng tích lũy vị thế trên thị trường Futures, sau đó kéo giá hoặc dìm giá chỉ số VN30 Index bằng cách sử dụng một nhóm CP lớn chi phối.

Nếu như khoảng 1 năm trước, các chiến lược thao túng này có chi phí quá cao do tiền thao túng chỉ số lớn hơn lợi nhuận vị thế Futures và có khi lỗ, thì hiện tại nhờ thanh khoản Futures đã đủ lớn để thực hiện một cách có lời (tăng quy mô vị thế Futures). Nhóm 10 CP lớn nhất chỉ số VN30 Index (chiếm tỷ trọng 59,34% chỉ số) rất dễ bị thao túng ở một thời điểm chớp nhoáng trong phiên giao dịch, nhằm tạo sự bùng nổ ở chỉ số theo hướng tăng hay giảm so với mốc kháng cự/hỗ trợ nhất định. Khác với thao túng giá CP mất nhiều ngày và có thể bị hệ thống giám sát truy vết, thao túng trên thị trường Futures chỉ diễn ra trong vài chục phút, và hoàn toàn mất dấu vết khi kết thúc phiên giao dịch.
 Khác với thao túng giá CP mất nhiều ngày và có thể bị hệ thống giám sát truy vết, thao túng trên thị trường Futures chỉ diễn ra trong vài chục phút, và hoàn toàn mất dấu vết khi kết thúc phiên giao dịch.

 

Nên gọi “futures market” là thị trường kỳ hạn hay tương lai?

Thị trường kỳ hạn mà nay có người gọi là “Futures market” trước đây còn được gọi là “terminal market” (tiếng Anh) và “marché à terme” hay “marché terminal” trong tiếng Pháp. Nay rất nhiều người trên kinh doanh trên thị trường này vẫn còn hay gọi tên cũ bằng tiếng Anh và tiếng Pháp như đã nói.

Sở dĩ người ta gọi tên mới “futures market” có lẽ sau này vì phạm vi hoạt động của nó lớn, nay chuyển qua không chỉ hàng hóa mà tiền tệ, hối trái phiếu, chuyển đổi tiền tệ…với rất nhiều hình thức khác nữa.

Với từ “kỳ hạn”, thật ra trước đây các nhà nghiên cứu kinh tế cũ đã nói nhiều nhưng không biết ai đó thấy “futures” tưởng là “tương lai” nên gọi vừa dễ nhớ mà vừa dễ học tiếng Anh. Song, họ không để ý đến định nghĩa của từ này.

Theo “investopedia.com”, xin trích nguyên văn câu tiếng Anh như sau:

“DEFINITION of ‘Futures Market’

An auction market in which participants buy and sell commodity/future contracts for delivery on a specified future date…”

Xin tạm dịch “Là một thị trường đấu giá mà tại đó các bên tham gia mua và bán các hợp đồng hàng hóa/kỳ hạn cho giao hàng tại một ngày nào đó trong tương lai được sàn qui định/biệt chỉ”.

Rõ ràng, nếu nói thị trường “tương lai”, thì nghĩa mơ hồ chung chung, còn “kỳ hạn” tức có thời hạn, có qui định chuẩn và rõ ràng.

Nên sử dụng “thị trường kỳ hạn”.

Cũng cần nói rằng “hợp đồng kỳ hạn” là các hợp đồng hết sức chuẩn, từ số/khối lượng của hợp đồng, đến chất lượng và thời hạn giao hàng, thị trường không thể du di.

Trong khi đó, có nhiều loại hợp đồng khác “ăn theo” hợp đồng kỳ hạn như “forward contracts”. Hình như có nhiều nhà nghiên cứu thị trường phái sinh hiện nay đã đặt tên cho loại hợp đồng này là “kỳ hạn”. Có lẽ do họ không có thực tế mua bán và thâm nhập sâu vào hoạt động kinh doanh thị trường phái sinh, nên gọi “đại” cho xong. Điều này làm xã hội thêm nhiều tranh cãi.

Tuy “forward” có nghĩa là “phía trước”. Nhưng nếu đứng về phía bán thì gọi là “bán trước” nhưng do hợp đồng kinh doanh kỳ hạn chuẩn qui chiếu trên ngày giao hàng và trong thị trường thường gọi là “hợp đồng giao sau”. Forward contract nên gọi là “hợp đồng giao sau”.

Hợp đồng giao sau chỉ dùng giá và thời hạn giao hàng của thị trường kỳ hạn để tham chiếu (xin hiểu tham chiếu chứ không phải “chuẩn”, còn chất lượng, số lượng, ngày giao hàng (trong hạn định giao hàng do hai bên mua bán nhất trí với nhau)…đều không gắt theo chuẩn của hợp đồng kỳ hạn. Mua bán cà phê trừ lùi cộng tới như hiện nay là mua bán kiều này, tức “forward contracts” nên mới có xin chuyển tháng trên cùng hợp đồng…

Có một số người nhờ tôi giúp để viết luận văn, tôi yêu cầu họ giải thích kiểu này và thấy nhiều vị giáo sư, tiến sĩ không ý kiến gì chắc là nhờ giải thích hợp lý


Chứng khoán phái sinh là một giải pháp khá hữu hiệu được sử dụng từ lâu tại các thị trường phát triển.

Trên thế giới hiện nay, việc sử dụng công cụ phái sinh đã trở nên rất phổ biến nhằm đa dạng hoá đầu tư và phòng ngừa rủi ro tạo ra lợi nhuận.

Chứng khoán phái sinh là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các nhà đầu tư trước sự biến động thất thường của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nội dung chính

  • Chứng khoán phái sinh và sự hấp dẫn của hợp đồng tương lai.
  • Kiến thức cơ bản về hợp đồng tương lai trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Những ưu điểm và nhược điểm của chứng khoán phái sinh đến nhà đầu tư.

Có thể nói thị trường chứng khoán hiện nay đang trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế, nhưng có thể thấy rằng rủi ro khá cao.

Một minh chứng khá rõ ràng cho chúng ta thấy rằng sự lên xuống thất thường của thị trường chứng khoán luôn nằm ngoài dự đoán của các nhà đầu tư ngay cả chuyên gia chứng khoán.

Thực tế đã có nhiều nhà đầu tư bị thua lỗ trong thời gian qua, điển hình là các nhà đầu tư nhỏ lẽ, phải cầm cố tài sản, phải đi vay vốn và quan trọng là thiếu kiến thức đầu tư.

Có thể thấy rằng khi giá cổ phiếu ở đỉnh cao nhất là lúc có nhiều người mua vào nhất. Khi thị trường xuống mạnh, họ đứng trước nguy cơ thua lỗ và phải bán tháo hàng loạt. Thị trường lại càng xuống dốc mạnh hơn. Và chứng khoán phái sinh ra đời để bảo vệ nhà đầu tư trước những rủi ro của thị trường.

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH MÔ HÌNH GIAO DỊCH VÀ THANH TOÁN BÙ TRỪ

Để thị trường chứng khoán phái sinh vận hàng thành công trên thị trường chứng khoán, cần phải xây dựng mô hình giao dịch và thanh toán bù trừ chứng khoán phái sinh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế.

Uỷ ban Chứng Khoán Nhà nước là đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng cơ chế quản lí và điều hành toàn bộ thị trường chứng khoán phái sinh.

Sở giao dịch Chứng khoán Việt Nam là đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng các loại sản phẩm phái sinh trình bày lên Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xem xét quyết định, chuẩn bị , công bố thông tin và giám sát giao dịch.

Các công ty chứng khoán phải được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép hoạt động chứng khoán phái sinh.

Sau đây là dự kiến mô hình giao dịch chứng khoán phái sinh ở Việt Nam:

Mô hình chứng khoán phái sinh tại việt Nam

1. Nhà đầu tư đặt lệnh hoặc mua bán chứng khoán phái sinh.

2. Công ty chứng khoán nhận lệnh mua hoặc bán từ nhà đầu tư, sau đó kiểm tra ký quỹ và gửi lệnh đến Sở Giao Dịch Chứng khoán Việt Nam.

3. Hệ thống giao dịch khớp lệnh hoặc không khớp lệnh giao dịch.

4. Sở giao dịch gửi lệnh khớp hoặc không khớp đến công ty chứng khoán, sở giao dịch gửi lệnh đã khớp cho trung tâm lưu ký chứng khoán để thanh toán bù trừ cho người mua và người bán chứng khoán.

Có thể nói đây là mô hình giao dịch chứng khoán phái sinh tương đối phù hợp với giai đoạn đầu tư phát triển của thị trường Việt Nam.

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH LÀ GÌ ?

Có thể nói khi nhắc đến thị trường chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái phiếu …..

Nhưng vẫn còn rất nhiều công cụ khác phải kể đến là chứng khoán phái sinh.

Chứng khoán phái sinh Quốc Tế hay Việt Nam đều được xem là công cụ chính mà giá trị của nó phải phụ thuộc vào giá trị của một loại khác để làm cơ sở và dễ thay đổi.

Nó được gọi là công cụ cơ sở (tài sản cơ sở), mục tiêu khác nhau có thể nói như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận và tạp ra lợi nhuận.

Có thể chỉa tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh được chia thành 2 dạng chính:
• Năng lượng, hàng hoá, thực phẩm, nông sản…
• Cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, công cụ tài chính….

Chứng khoán phái sinh khác với chứng chứng khoán cơ sở ở chỗ chúng không cho người nắm giữ quyền được sở hữu công ty hay quyền liên quan đến vốn của công ty, hay không huy động vốn cho người phát hành chúng.

Chứng khoán phái sinh chỉ liên quan đến sự cam kết đối với lãi suất, tỷ giá hối đoái, mức chỉ số chứng khoán, giá hàng hoá….

Khi các tổ chức, cá nhân tham gia cam kết mục tiêu của họ là bảo vệ khỏi những rủi ro do có những thay đổi lãi suất, giá trị tiền tệ hay hàng hoá.

Có thể nói tham gia giao dịch vào chứng khoán phái sinh không phải là các nhà đầu tư mà là những ai muốn quản lí rủi ro, đầu cơ hay kinh doanh chênh lệch giá.

CÁC LOẠI CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

Công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có 4 công cụ chính.

• Hợp đồng kỳ hạn (Forward).
• Hợp đồng tương lai (Future).
• Hợp đồng quyền chọn (Option).
• Hợp đồng hoán đổi (Swap).

Hợp Đồng Kỳ Hạn

Là sự thỏa thuận mua hoặc bán một tài sản cơ sở tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá xác định trước tại thời điểm ký kết hợp đồng.

Hợp Đồng Tương Lai

Là một dạng hợp đồng kỳ hạn đã được chuẩn hóa, niêm yết và giao dịch được thực hiện theo các quy định của Sở giao dịch có tổ chức.

• Tài sản cơ sở: ngũ cốc, thực phẩm, năng lượng, kim loại, tiền tệ, chỉ số tài chính…
• Quy cách của hàng hóa giao dịch trong Hợp đồng tương lai được chuẩn hóa và được giao dịch tại các sàn tập trung.

Sở giao dịch đề ra quy định về:
• Loại tài sản;
• Quy mô hợp đồng (số lượng tài sản cơ sở được chuyển giao đối với mỗi đơn vị hợp đồng);
• Loại và đơn vị tiền tệ đối với giá chuyển giao mỗi phiên;
• Biên độ dao động giá chuyển giao;
• Địa điểm và thời gian thực hiện việc chuyển giao.

Ví dụ : ông A bán cho ông B 50 tấn gạo giao tháng 7/2018 theo một hợp đồng với giá $5/kg. Đến tháng 7/2018 giá gạo lên $7/kg. Sẽ có 2 trường hợp xảy ra:

• A sẽ phải giao cho B 50 tấn gạo với giá $5/kg.
• A sẽ không phải giao gạo mà thanh toán cho B 2×50,000=100,000USD.

Hợp Đồng Quyền Chọn

Là hợp đồng cho phép người sở hữu nó có quyền mua hoặc bán một tài sản cơ sở với giá ấn định trước vào trước hoặc đúng ngày đã được xác định trong tương lai.

Và việc chuyển giao này được thực hiện theo các quy định của Sở giao dịch có tổ chức.

Hợp Đồng Hoán Đổi

Là sự thỏa thuận giữa hai bên để trong đó hai bên đối tác trao đổi dòng tiền này lấy một dòng tiền khác của bên kia.

PHÂN BIỆT HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN, HỢP ĐỒNG KỲ HẠN VÀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

Có thể nói chứng khoán phái sinh có nhiều ưu điểm hơn so với cổ phiếu, trái phiếu.

Bên cạnh đó cũng có một số hạn chế. Cụ thể:

ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

Với đặc tính trên, sản phẩm chứng khoán phái sinh tại Việt Nam phù hợp với những người chấp nhận rủi ro cao, giao dịch nhiều, đã có kinh nghiệm đầu tư.

Bên cạnh đó, phái sinh cũng phù hợp với các tổ chức, như là 1 khoản bảo hiểm cho tài sản trên thị trường chứng khoán cơ sở khi thị trường giảm.

SẢN PHẨM PHÁI SINH NÀO ĐƯỢC TRIỂN KHAI ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM?

Ngày 10/8/2017, thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam chính thức mở cửa.

Sản phẩm chứng khoán phái sinh đầu tiên được niêm yết và giao dịch trên thị trường Việt Nam là Hợp đồng tương lai trên chỉ số cổ phiếu (cụ thể là chỉ số VN30).

Nói một cách dễ hiểu nhất tại thị trường chứng khoán Việt Nam, chứng khoán phái sinh là 1 sản phẩm cho phép bạn đặt cược vào bên tăng hoặc giảm của chỉ số VN30.

Tên chính xác của chứng khoán phái sinh là Hợp Đồng Tương Lai chỉ số VN30.

Sản phẩm ở đây là Hợp đồng tương lai trên chỉ số cổ phiếu (VN30 và HNX30 ) và Hợp đồng tương lai trên trái phiếu chính phủ ( kỳ hạn 5 năm ).

Do tính chất sản phẩm đơn giản nên có thể nói Hợp đồng tương lai VN30 là sản phẩm duy nhất được đưa vào vận hành giao dịch và niêm yết trên Sở Giao Dịch Phái Sinh Việt Nam (HNX) Và thanh toán bù trừ qua Trung tâm Bù Trừ (VSD).

Hợp đồng tương lai thường được phân loại căn cứ vào tài sản làm cơ sở (ví dụ: hàng hóa cơ bản, tiền tệ, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu…) cho hợp đồng.

ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

Tại sao hợp đồng tương lai lại được lựa chọn triển khai đầu tiên tại thị trường chứng khoán Việt Nam?

Do tính chất sản phẩm đơn giản nên có thể nói Hợp đồng tương lai VN30 là sản phẩm duy nhất được đưa vào vận hành giao dịch và niêm yết trên Sở Giao Dịch Phái Sinh Việt Nam (HNX) Và thanh toán bù trừ qua Trung tâm Bù Trừ (VSD).

Chúng ta có thể thấy rằng hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu dễ thực hiện

Chúng có tính đại diện cao và đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng hoá và phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư.

Vì thế sản phẩm này phù hợp để triển khai ở thị trường Việt Nam.

Cụ thể giữa nhiều chỉ số chứng khoán, VN30 được lựa chọn do chỉ số này đại diện cho 30 mã cổ phiếu được niêm yết trên sàn HOSE có giá trị vốn hoá và thanh khoản cao nhất cùng các yếu tố kỹ thuật khác

Việc lựa chọn này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Theo thống kê từ nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu luôn là sản phẩm đặt nền móng cho việc xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh.

Việc lựa chọn này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Theo thống kê từ nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu luôn là sản phẩm đặt nền móng cho việc xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh.

Mức giá Chuyển giao được điều chỉnh theo tình hình thị trường.
• Mức giá này được ấn định ban đầu và thay đổi sau mỗi phiên trên thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố và liên tục thay đổi theo thời gian.
• Giá chuyển giao của hợp đồng tương lai được giao dịch trên thị trường phụ thuộc và nhiều yếu tố và liên tục thay đổi theo thời gian.
• Nếu giá giao ngay của tài sản cơ sở tăng thì thông thường giá chuyển giao cũng tăng và ngược lại.

Vào cuối phiên, mức giá chuyển giao của Hợp đồng tương lai sẽ được công bố và có hiệu lực cho đến phiên tiếp theo.

Hợp đồng tương lai yêu cầu tỷ lệ ký quỹ.
• Khi tham gia Hợp đồng tương lai, người mua và người bán phải mở tài khoản ký quỹ tại sàn, và ký quỹ một tỷ lệ phần trăm của giá trị hợp đồng.
• Số dư tài khoản ký quỹ của bên tham gia giao dịch sẽ luôn thay đổi theo giá hàng ngày và không được thấp hơn ức ký quỹ duy trì (Theo qui định của Sở giao dịch).

Giá trị lãi lỗ của Hợp đồng tương lai được xác đinh hàng ngày.
• Nhà đầu tư đứng ở vị thế mua (long-position – người mua) được lợi nếu giá tài sản cơ sở trên thị trường tăng lên.

• Nhà đầu tư đứng ở vị thế bán (short-position – người bán) sẽ được lợi nếu giá tài sản cơ sở trên thị trường giảm xuống.

CÁC TIÊU CHÍ CHUẨN MỰC CỦA HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VN30

CÁC TIÊU CHÍ CHUẨN MỰC CỦA HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VN30
CÁC TIÊU CHÍ CHUẨN MỰC CỦA HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI VN30 (1)

Mỗi hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index sẽ có 4 “tháng” đáo hạn, bao gồm tháng hiện tại, tháng kế tiếp và 2 tháng cuối 2 quý gần nhất (tức là sản phẩm sẽ có 4 mã chứng khoán tương ứng).

Ví dụ, tại thời điểm tháng 8/2017, sẽ tồn tại 4 hợp đồng gồm: HĐTL đáo hạn tháng 8/2017 (tháng hiện tại – VN30F1708), HĐTL đáo hạn tháng 9/2017 (tháng tiếp theo – VN30F1709), HĐTL đáo hạn tháng 12/2017 (VN30F1712) và HĐTL đáo hạn tháng 3/2018 (VN30F1803) (tương tứng với 2 tháng cuối 2 quý gần nhất).

Hệ số nhân đối với VN30-Index là 100.000 đồng, tương ứng với quy mô một hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index tại mức 700 điểm là 70.000.000 đồng (100.000 đồng x 700).

Theo quy định của VSD, mức ký quỹ ban đầu vào khoảng 10-15% giá trị hợp đồng (* Chi tiết tính mức ký quỹ ban đầu theo công thức tính tại Quy chế Ký quỹ của VSD).

Nghĩa là nếu quy mô hợp đồng là 70.000.000 đồng thì mức ký quỹ ban đầu để mua 1 hợp đồng vào khoảng 7-10,5 triệu đồng.

Với mức ký quỹ này, các nhà đầu tư cá nhân hoàn toàn có thể tham gia vị thế mua/bán một hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index.

Hợp đồng trên có bước giá 0,1 điểm chỉ số và biên độ giống thị trường cơ sở (± 7%), được giao dịch sớm hơn 15 phút và đóng cửa cùng thời gian so với thị trường cơ sở.

SO SÁNH GIAO DỊCH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CƠ SỞ

Một đặc điểm giao dịch của thị trường tương lai khác biệt so với thị trường cổ phiếu, trái phiếu là khi mua, bán hợp đồng tương lai.

Người mua bán thường không phải trả (không thu về ) toàn bộ giá trị hợp đồng mà chỉ thánh toán ( hoặc nhận về ) số chênh lệch lãi (hoặc lỗ ).

SO SÁNH GIAO DỊCH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CƠ SỞ (3)

ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI 2

HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI GIAO DỊCH NHƯ THẾ NÀO?

Cách giao dịch chứng khoán phái sinh.

Có thể nói giao dịch hợp đồng tương lai cũng gần như chứng khoán thông thường.

Sức hấp dẫn có thể nói ở việc nhà đầu tư có thể mua hoặc bán mà không cần nắm giữ tài sản cơ sở tương ứng do bản chất hợp đồng tương lai là giao dịch dựa trên kỳ vọng giá của các nhà đầu tư.

Chính vì thế khi nhà đầu tư tin rằng thị trường sẽ giảm trong thời gian tới, nhà đầu tư hoàn toàn có thể ” bán khống ” hợp đồng tương lai để bảo vệ danh mục trước sau đó mua lại để chốt lãi/ lỗ.

Khi thực hiện phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng tương lai, sự giảm – tăng giá trị danh mục sẽ được bù đắp bởi việc tăng giảm của hợp đồng tương lai.

HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI GIAO DỊCH NHƯ THẾ NÀO?

BÁN KHỐNG TRONG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH LÀ GÌ ?

Điểm khác biệt ở thị trường chứng khoán phái sinh và thị trường cơ sở là ở phái sinh bạn sẽ được quyền bán khống chỉ số khi thị truờng đang trong nhịp giảm.

Ở thị trường cơ sở bạn chỉ kiếm được lợi nhuận cổ phiếu khi gía tăng và khi thị trường rơi vào nhịp điều chỉnh, các cổ phiếu bạn đang nắm giữ cũng bị giảm.

Khi đó chỉ có 2 lựa chọn:
• Bán cổ phiếu đó đi.
• Tiếp tục nắm giữ bất chấp cổ phiếu giảm vói hy vọng giá tăng sẽ có nhịp tăng trở lại.

Vậy bán khống chứng khoán phái sinh là gì ?

Bán Khống

Bán khống là hoạt động bán tài sản mà người bán không sở hữu tài sản, tài sản này được mượn từ người khác và thực hiện bán với kỳ vọng sẽ mua lại trong tương lai với mức giá thấp hơn để thu được lợi nhuận.

Đối với thị trường phái sinh, nếu nhà đầu tư có kỳ vọng chỉ số cơ sở giảm trong tương lai, nhà đầu tư hoàn toàn có thể mở vị thế bán hợp đồng tương lai của tài sản cơ sở tương ứng ngay tại thời điểm hiện tại mà không còn sở hữu tài sản.

Ví dụ:
Giả sử thị trường giảm điểm rất mạnh từ mức 1.200 xuống còn 1.100 điểm và cổ phiếu trong danh mục của bạn hầu hết là lao dốc theo thị trường chung.

Lúc này, theo kinh nghiệm của bản thân, nhà đầu tư dự báo thị trường có thể giảm tiếp về mức 1.000 điểm.

Do đó, nhà đầu tư sẽ quyết định thực hiện Bán chỉ số tương lai VN30F ở mức giá hiện tại là 1.100 điểm.

Khoảng một tuần sau, đúng như dự báo của nhà đầu tư, chỉ số VN30F lao dốc từ mức 1.100 điểm về 1.000 điểm.

Để đóng vị thế giao dịch, nhà đầu thực hiện Mua đối với hợp động tương lai VN30F tại mức giá 1.000 điểm.

Kết quả, nhà đầu tư có được mức chênh lệch 100 điểm, với hệ số nhân mỗi hợp đồng là 100.000 đồng thì với mỗi hợp đồng thực hiện bán khống nhà đầu tư lời được 10.000.000 đồng (100.000×100).

Như vậy, ngay cả trong điều kiện thị trường giảm, bạn vẫn kiếm được lợi nhuận hết sức hấp dẫn.

KÝ QUỸ LÀ GÌ ?

Để tham gia giao dịch thị truờng, người mua và người bán phải mở tài khoản ký quỹ tại sàn và ký quỹ một tỷ lệ phần trăm của giá trị hợp đồng.

Thị trường tương lai sử dụng các biện pháp kí quỹ nhằm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng cho tới khi đáo hạn.

Đồng thời giúp các nhà giao dịch hợp đồng tương lai có thể dễ dàng tính toán lãi, lỗ của mình theo biến động liên tục của thị trường và bán lại hợp đồng tương lai ( rút ra khỏi hợp đồng ) khi họ muốn.

Để đảm bảo việc tham gia thị trường đúng quy định và an toàn, nhà đầu tư phải đảm bảo có đủ số tiền và tài sản tối thiểu Mức ký quỹ ban đầu.

Số tiền này yêu cầu ký quỹ đối với số vị thế mà bạn đang nắm giữ
Mức ký quỹ ban đầu nay sẽ được xác định vào cuối ngày bằng công thức

Mức Ký Quỹ Ban Đầu

Còn được gọi là M-initial Margin.

Mức ký quỹ ban đầu = Tỷ lệ ký quỹ ban đầu x Số hợp đồng mở x Số nhân hợp đồng x Giá TT cuối ngày.

Trong đó:

• Tỷ lệ ký quỹ ban đầu là 18% và có thể thay đổi theo từng thời kỳ.
• Số nhân hợp đồng tương lai là 100.000VNĐ.
• Giá TT cuối ngày là giá thanh toán do Trung tâm bù trừ xác định vào cuối ngày.

Mức Ký Quỹ Duy Trì

Còn được gọi là MM – Maintenance Margin.

Mức ký quỹ này là số tiền ký quỹ bạn cần phải duy trì tối thiểu đối với số vị thế hợp đồng dang nắm giữ được tính toán như sau:

MM = 80% x IM
Trong đó tỷ lệ 80% có thể quy định và thay đổi theo từng thời kỳ tuỷ thuộc vào công ty chứng khoán.

Số dư ký quỹ giảm xuống dưới Mức ký quỹ duy trì này, bạn sẽ được công ty chứng khoán thông báo nộp bổ sung ký quỹ (Margin Call ) để số dư ký quỹ về Mức ký quỹ ban đầu.

Ký Quỹ Bổ Sung

Nhà đầu tư cần nộp ký quỹ bổ sung vào tài khoản phái sinh hoặc đóng bớt vị thế trước 11:30 ngày T+1.

Nếu nhà đầu tư chưa thực hiện nộp ký quỹ bổ sung, công ty chứng khoán sẽ tiến hành đóng bớt vị thế trên tài khoản của khách hàng từ 13:00 ngày T+1.

Nhận Thông Báo Ký Quỹ

Từ 16:30 ngày T, khách hàng nhận thông báo yêu cầu nộp bổ sung ký quỹ qua các kênh liên lạc đã được xác nhận (SMS, email), nếu tài khoản khách hàng có Số dư Ký Quỹ thấp hơn Mức Ký Quỹ Duy Trì.

VỊ THẾ TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

Vị thế là gì ? Quy định về giới hạn vị thế trong giao dịch ?

Có thể nói khi bạn tham gia vào 1 bên nào đó của hợp đồng tương lai ( bên mua và bên bán ), nhà đầu tư có thể gọi là đang nắm giữ vị thế.

Nếu bạn đặt lệnh mua 01 hợp đồng và khớp trên thị trường có nghĩa là bạn đang nắm vị thế mua.

Và nếu bạn đặt bán 01 hợp đồng và khớp trên thị trường có nghĩa là bạn đang nắm vị thế bán.

Đó được gọi là giới hạn vị thế nhằm ngăn ngừa việc cá nhân hoặc tổ chức có thể nắm giữ số lượng hợp đồng quá lớn, gây ảnh hưởng quá nhiều đến giao dịch chứng khoán phái sinh, có thể đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư khi tham gia giao dịch.

LỢI THẾ VÀ RỦI RO

Lợi Thế Đòn Bẩy Của Hợp Đồng Tương Lai.

Ở phần này bạn sẽ có thể biết được lợi thế của chứng khoán phái sinh là gì ?

Và tại sao bạn cần phải cân nhắc mức độ sử dụng đòn bẫy để phòng ngừa rủi ro trong giao dịch chứng khoán phái sinh .

Như đã nói trên trước khi giao dịch mua bán hợp đồng tương lai, bạn cần phải ký quỹ .

Ký quỹ trong giao dịch chứng khoán phái sinh được xem là tài sản đặt cọc ban đầu để có thể đảm bảo rằng bạn đủ khả năng thanh toán.

Khi tham gia mua bán hợp đồng tương lai, nhà đầu tư được phép giao dịch mà không cần sở hữu tài sản cơ sở.

Thay vào đó, bạn chỉ cần bỏ ra một số tiền ký quỹ bằng một phần giá trị của hợp đồng chứng khoán phái sinh mà mình muốn tham gia.

Ký quỹ trong giao dịch chứng khoán không phải là khoản vay giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán vì thế nhà đầu tư sẽ không phải trả bất kỳ chi phí lãi vay nào.

Tỷ lệ ký quỹ theo quy định của Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD) là 13% giá trị hợp đồng.

Tuy nhiên các công ty chứng khoán thường quy định mức ký quỹ cao hơn từ 15%-20% để phòng ngừa rủi ro.

Ngược lại, trên thị trường chứng khoán cơ sở , nếu muốn mua chứng khoán, bạn phải đảm bảo có 100% tiền và muốn bán phải có đủ 100% chứng khoán trong tài khoản.

Vì thế giao dịch ký quỹ là sử dụng tiền vay của công ty chứng khoán ( không bắt buộc ) để mua cổ phiếu. Chỉ các cổ phiếu đủ tiêu chuẩn mới thực hiện các giao dịch ký quỹ.

Lợi thế ở đây là bạn có thể sử dụng đòn bẫy để mua hợp đồng. Bạn chỉ cần bỏ ra 1 khoản tiền đặt cọc với tỷ lệ nhất định để giao dịch các hợp đồng có giá trị lớn hơn gấp nhiều lần.

Ví dụ :

Ông A tham gia vị thế mua 1 hợp đồng tương lai trên chỉ số HNX30 với giá 200 điểm.

Nếu tại mẫu hợp đồng tương lai chỉ số HNX quy định hệ số nhân của một hợp đồng là 1 triệu đồng/ điểm chỉ số thì giá trị hợp đồng của nhà đầu tư A là 200 triệu đồng.

Tuy nhiên với mức ký quỹ ban đầu được quy định là 15% thì ông A chỉ cần đặt cọc số tiền hoặc tài sản có giá trị 30 triệu đồng để tham gia hợp đồng này.

Số tiền ký quỹ ban đầu này sẽ được VSD sử dụng việc tính lãi , lỗ trên hợp đồng nắm giữ.

Trường hợp giá hợp đồng tương lai tăng từ 200 lên 205 điểm, Ông A đang có lãi với giá trị là 5 triệu đồng.

Giá trị ký quỹ sẽ tăng lên 35 triệu đồng để tham gia hợp đồng.

Nếu giao dịch tại thị trường cơ sở thì phần trăm lãi của ông A trên số tiền ban đầu bỏ ra sẽ chỉ là (205-200)/200*100 = 2,5%.

Tuy nhiên đối với hợp đồng tương lai thì phần trăm lãi của ông A sẽ là (205-200)/30*100=16,67%.

Như vậy có thể thấy rằng mức sinh lời trên thị trường phái sinh thường cao hơn nhiều so với mức sinh lời trên thị trường chứng khoán cơ sở nhờ hiệu ứng đòn bẫy của khoản tiền ký quỹ.

Rủi Ro

Tuy nhiên nên nhớ rằng, cái gì cũng có mặt lợi và mặt hại, hiệu ứng đòn bẫy chỉ tạo ra con số lợi nhuận ấn tượng nếu giá của hợp đồng tương lai mà bạn đã biến động giao dịch theo chiều huớng có lợi.

Đây là con dao hai lưỡi vì vậy khi dự báo về thay đổi của giá không đúng với những gì thực sự diễn ra trên thị trường hay giá hợp đồng tương lai biến động theo chiều hướng bất lợi, khi đó bạn sẽ thua lỗ.

Đồng thời do tắc động của đòn bậy, mức độ thua lỗ tính theo phần trăm trên số tiền mà bạn ký quỹ ban đầu sẽ lớn hơn rất nhiều.

Quay lại ví dụ trên

Nếu giá hợp đồng giảm từ 200 xuống còn 197 điểm thì ông A sẽ lỗ 3 triệu đồng.
Giá trị ký quỹ sẽ giảm còn 27 triệu đồng tương ứng mất (3/30=10%).

Trong khi khoản lỗ trên thị trường cơ sở chỉ là 1,5%.

Nói chung chứng lợi ích của đòn bẫy chứng khoán phái sinh về lợi nhuận rất tiềm năng nhưng bên cạnh đó nguy cơ tiềm ẩn vì những dự báo của bạn có thể chênh lệch so với thực tế.

Tính hai mặt của hiệu ứng đòn bẫy đặt nhà đầu tư trước những rủi ro lớn.

Vì thế để phòng ngừa, bạn nên tìm hiểu kỹ các quy định, cách thức ký quỹ cũng như cân nhắc khả năng tài chính và mức độ sử dụng đòn bẩy để tránh những tổn thất đáng tiếc trước khi tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán phái sinh.

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH KIẾM TIỀN NHƯ THẾ NÀO?

Cách giao dịch trong chứng khoán phái sinh.

Nhà đầu tư dự đoán chiều tăng (long)/ giảm (short) của chỉ số VN30 bằng cách đặt lệnh giao dịch (mở vị thế long/short).

• Nếu chỉ số VN-30 thay đổi đúng chiều dự đoán, bạn đóng vị thế và có lãi.
• Ngược lại, nếu NĐT dự đoán ngược chiều, bạn đóng vị thế và bị lỗ.

ĐỊNH GIÁ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

Tất nhiên là không phải nhà đầu tư nào cũng hiểu được quy tắc định giá hợp đồng tương lai cũng như biết cách đặt mua và bán hợp đồng tương lai sao cho hợp lý nhất.

Nguyên tắc định giá hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai (futures contract) là một thỏa thuận mua bán hàng hóa trong hiện tại và được giao hàng vào một ngày xác định trong tương lai.

Nguyên tắc định giá hợp đồng tương lai được dựa trên nguyên tắc cơ bản, giá tương lai sẽ phản ánh giá giao ngay cộng thêm phần chi phí lưu giữ từ thời điểm hiện tại cho đến khi đáo hạn.

Ví dụ:

Một nhà máy cần nguyên liệu để sản xuất cho một tháng nữa, nhà đầu tư có thể mua hợp đồng tương lai kỳ hạn một tháng hoặc mua ngay tại thời điểm hiện tại và lưu trữ đến tháng sau.

Để mua ở thời điểm hiện tại, tất nhiên nha đầu tư phải bỏ ra ngay số tiền ở thời điểm hiện tại và tiền có giá trị thời gian, đồng thời phải bỏ ra chi phí lưu trữ, bảo quản, lưu kho sản phẩm cho một tháng tới.

Do đó giá tương lai phải bao gồm giá giao ngay cộng với khoản lãi suất đối với khoản tiền chi ra hiện tại và chi phí lưu kho, các chi phí này được gọi chung với thuật ngữ chi phí lưu trữ (cost of carry).

Giá trị hợp lý của một hợp đồng tương lai = Giá hiện tại (Spot Price) + Chi phí lưu kho (Cost of Carry)

Đối với hợp đồng tương lai, giá hiện tại của tài sản cơ sở là chỉ số của hợp đồng (Spot Index) và chi phí lưu kho (Cost of Carry) bao gồm lãi vay (Interest) trừ đi các khoản cổ tức (Dividend) phát sinh trong thời gian còn lại của hợp đồng.

Nguyên nhân là để mua được một rổ cổ phiếu tương đương, gồm các cổ phiếu cấu thành trong chỉ số theo tỷ lệ tương ứng, khách hàng sẽ phải bỏ ra một số tiền ban đầu và do đó phải chịu một khoản chi phí lãi vay trên số tiền bỏ ra.

Bên cạnh đó, các cổ phiếu trong danh mục chỉ số có thể chi trả cổ tức và tạo ra thu nhập cho người đang nắm giữ.

Dòng cổ tức này có thể bù đắp phần nào chi phí lãi vay đã phát sinh.

Giá trị hợp đồng tương lai

F = Se(r-d)T
S: giá cơ sở (chỉ số VN30)
e: hằng số = 2.71
r: lãi suất vay
d: lợi suất cổ tức bình quân của chỉ số T: thời gian nắm giữ đến đáo hạn

Ví dụ cụ thể đối với hợp đồng tương lai chỉ số VN30 kỳ hạn 1 tháng.

Giá cơ cở, tức chỉ số Vn30 hiện tại là 1,000 điểm. Lãi suất vay của nhà đầu tư là 9% và cổ tức trung bình của rổ chỉ số Vn30 là 3.5%/năm.
Giá tương lai hợp lý được xác định là: F = Se(r-d)T = 1,000×2.71(9%-3.5%)(1/12) = 1,004.5 điểm.

Lưu ý đối với định giá hợp đồng tương lai

Đối với nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân, khi giao dịch cần chú ý đến giá trị định giá hợp lý fair value để không đặt lệnh quá xa giá trị này.

Bởi lẽ trên thị trường luôn có các nhà kinh doanh chênh lệch giá (arbitrageur).
Khi giá thị trường quá cao hay quá thấp so với giá trị hợp lý đều tạo cơ hội mua – bán để tận dụng sự định giá sai của thị trường để kiếm lợi nhuận phi rủi ro.
Ví dụ:
Khi giá trị hợp lý của hợp đồng tương lai là 1,005 điểm, trong khi đó giá thị trường của hợp đồng tương lai kỳ hạn 1 tháng là 1,020 điểm.

Với khoản chênh lệch đủ lớn này, nhà kinh doanh chênh lệch giá có thể thực hiện đồng thời bán hợp đồng tương lai chỉ số và mua vào danh mục chứng khoán cở sở của chỉ số (ví dụ chỉ số Vn30) và tất toán cả danh mục cơ sở và hợp đồng tương lai vào ngày đáo hạn.
Tại ngày đáo hạn, giá hợp đồng tương lai bằng giá tài sản cơ sở, do đó nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch giá sẽ nhận được giá trị chênh lệch này, phần lợi nhuận sẽ là khoản chênh lệch trừ đi thuế và phí giao dịch.


ĐỂ THAM GIA GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI, CẦN LÀM GÌ?

Để tham gia giao dịch Hợp ĐồngTương Lai, Nhà đầu tư có thể thực hiện các bước sau:

Bước 1: Mở tài khoản chứng khoán phái sinh tại công ty chứng khoán là thành viên giao dịch thị trường chứng khoán phái sinh và một tài khoản ký quỹ tại một thành viên bù trừ (có thể là tổ chức khác nếu thành viên giao dịch của nhà đầu tư không phải thành viên bù trừ).

Bước 2: Trước khi giao dịch, nhà đầu tư nộp tiền (ký quỹ) theo quy định.

Bước 3: Nhà đầu tư tiến hành tham gia giao dịch HĐTL theo hướng dẫn và bổ sung ký quỹ (khi được yêu cầu).

Việc thanh toán hàng ngày như thế nào?

Có thể nói thị trường chứng khoán phái sinh có cơ chế thanh toán hàng ngày.

Khi bạn giao dịch và nắm giữ các vị thế trong hợp đồng chứng khoán phái sinh sẽ phải thực hiện thanh toán toàn bộ lãi lỗ phát sinh từ các vị thế đó mỗi ngày:

• Nếu tài khoản của bạn lỗ ròng: bạn sẽ phải thanh toán đầy đủ toàn bộ số lỗ phát sinh chậm nhất đến 9h ngày hôm sau.
• Nếu tài khoản của bạn lãi ròng: bạn sẽ nhận được đầy đủ số lãi phát sinh sau 11h sáng ngày hôm sau.

Lãi, lỗ sẽ được tính dựa trên giá giao dịch đóng cửa của hợp đồng tương lai mà bạn nắm giữ vị thế.

Riêng đối với những hợp đồng đến ngày đáo hạn, lãi lỗ sẽ được tính dựa trên giá đóng cửa tại ngày đáo hạn của hợp đồng tương lai.

CÁC TÍNH QUY MÔ HỢP ĐỒNG

Giống như giá của mỗi cổ phiếu, quy mô của mỗi hợp đồng phái sinh sẽ cho biết giá trị đầu tư mà nhà đầu tư đang tham gia là bao nhiêu.

Quy mô hợp đồng sẽ được tính theo công thức:

Quy mô hợp đồng

Có thể thấy trong thị trường chứng khoán phái sinh sắp tới sẽ phát triển và nâng tầm ở trình độ cao hơn hỗ trợ cho việc phát triển nền kinh tế đất nước điều này hoàn toàn phù hợp với chính sách Nhà nước.

Chứng khoán phái sinh sẽ trở thành kênh huy động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp nhằm mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Hi vọng bài viết này của tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chứng khoán phái sinh.

So sánh hợp đồng tương lai và hợp đồng CFD

Ví dụ về Hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai được sử dụng bởi hai loại người tham gia thị trường: người mua và người bán.

Một nhà sản xuất cần bán dầu. Họ có thể sử dụng hợp đồng tương lai làm điều đó bằng cách xác định mức giá bán, và số lượng dầu cần sản xuất sau đó cung cấp dầu cho người mua khi hợp đồng tương lai tới hạn.

Tương tự, một công ty sản xuất có thể cần dầu để chế tạo các vật dụng. Vì muốn lập kế hoạch trước để luôn có dầu vào mỗi tháng, họ có thể sử dụng hợp đồng tương lai. Bằng cách này, họ biết trước giá sẽ trả cho dầu (giá hợp đồng tương lai) và họ biết họ sẽ nhận dầu khi hợp đồng tới hạn.

Hợp đồng tương lai có sẵn trên nhiều loại tài sản khác nhau gồm: chỉ số chứng khoán, hàng hóa và tiền tệ.

Cơ chế hoạt động của Hợp đồng tương lai

Hãy tưởng tượng một nhà sản xuất dầu có kế hoạch sản xuất 1 triệu thùng trong năm tới và sẽ sẵn sàng giao hàng trong 12 tháng.

Giả sử giá hiện tại là 75 USD mỗi thùng. Các nhà sản xuất có thể sản xuất dầu, và sau đó bán nó với giá thị trường hiện tại trong 1 năm kể từ ngày hôm nay. Với sự biến động của giá dầu, giá thị trường tại thời điểm đó có thể rất khác so với giá hiện tại.

Nếu nhà sản xuất dầu cho rằng dầu sẽ cao hơn trong một năm, họ có thể chọn không khóa giá ngay bây giờ. Nhưng, nếu họ nghĩ rằng 75 USD là một mức giá tốt, họ có thể khóa giá bán được đảm bảo bằng cách tham gia vào Hợp đồng Tương lai.

Mô hình toán học được sử dụng để định giá tương lai, có tính đến giá giao ngay hiện tại, tỷ suất hoàn vốn không có rủi ro, thời gian đáo hạn, chi phí lưu trữ, cổ tức, lợi tức cổ tức và lợi tức thuận lợi.

Giả sử hợp đồng dầu kỳ hạn một năm có giá 78 USD/ thùng. Bằng cách ký kết hợp đồng này, trong một năm, nhà sản xuất có nghĩa vụ giao 1 triệu thùng  và được đảm bảo nhận 78 triệu USD. Giá 78 USD/ thùng được nhận bất kể giá thị trường giao ngay tại thời điểm nào.

Ưu điểm của Hợp đồng Tương lai

Tính thanh khoản cao

Hợp đồng Tương lai là loại chứng khoán phái sinh niêm yết đã được chuẩn hóa. Căn cứ vào các điều khoản của hợp đồng, những người tham gia đều biết được rằng họ có thể mua hoặc bán cái gì, vào thời điểm nào trong tương lai và giao dịch đó được thực hiện như thế nào.

Với tính chất nhất quán của sản phẩm, các nhà đầu tư có thể thực hiện mở và đóng giao dịch tùy theo mong muốn cá nhân. Điều này làm cho thị trường Hợp đồng Tương lai có tính thanh khoản rất cao và biến nó trở thành công cụ thuận lợi cho các nhà đầu tư sử dụng vào những mục đích cụ thể.

Phòng ngừa rủi ro

Hợp đồng Tương lai đem lại cơ hội cho những người quản lý rủi ro biến động giá để chuyển những rủi ro đó sang cho những cá nhân với hy vọng không ngừng gia tăng lợi nhuận mà sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Quá trình này được gọi là phòng ngừa rủi ro.

Trên thực tế, việc phòng ngừa rủi ro được thực hiện bằng cách bù trừ rủi ro về giá hiện hữu trên thị trường giao dịch thông qua việc giữ vị thế trái ngược nhưng có giá trị tương đương trên thị trường Hợp đồng Tương lai. Bằng cách này, người phòng ngừa sẽ cố định được mức giá hay  mức lãi suất ở mức chấp nhận được và hạn chế những thiệt hại gây ra bởi biến động giá.

Đòn bẩy tài chính

Khi tham gia thị trường Hợp đồng Tương lai, nhà đầu tư có khả năng thu được những khoản lợi nhuận hết sức ấn tượng chỉ với một số tiền đầu tư rất nhỏ. Nếu một nhà đầu tư muốn mua hay bán Hợp đồng Tương lai, họ chỉ cần đáp ứng yêu cầu ký quỹ với yêu cầu về khoản cam kết tài chính đảm bảo thực hiện hợp đồng.

Khi dự đoán của nhà đầu tư về biến động giá của tài sản cơ sở trở thành hiện thực, họ sẽ kiếm được lợi nhuận từ vị thế Hợp đồng Tương lai đang nắm giữ. Do hiệu ứng đòn bẩy của khoản tiền ký quỹ, mức sinh lời trên thị trường này thường cao hơn nhiều so với trên thị trường tài sản cơ sở.

Nhược điểm của Hợp đồng Tương lai

Yêu cầu ký quỹ bổ sung

Cơ chế thanh toán Hợp đồng Tương lai là thanh toán hàng ngày. Với các khoản lãi, lỗ phát sinh được hiện thực hóa hàng ngày và phản ánh ngay trên tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư. Vì vậy, cần phải thực hiện ký quỹ bổ sung ngay khi số tiền trên tài khoản giảm đến mức bằng hoặc thấp hơn mức ký quỹ duy trì.

Khi tham gia vào thị trường Hợp đồng Tương lai, nhà đầu tư phải có sự chuẩn bị kỹ càng về năng lực tài chính. Bởi nếu không thực hiện ký quỹ bổ sung kịp thời khi có yêu cầu thì vị thế của nhà đầu tư trên thị sẽ không còn được giữ vững, qua đó gây thua lỗ và có thể dẫn đến việc phá sản.

Yếu tố phòng ngừa rủi ro sẽ làm giảm tiềm năng gia tăng lợi nhuận

Khi sử dụng Hợp đồng Tương lai trong việc phòng ngừa rủi đối với tài sản cơ sở, nhà đầu tư có thể giảm được những thiệt hại xảy ra ảnh hưởng tới vị thế cơ sở của mình khi giá trên thị trường diễn biến theo chiều hướng bất lợi. Kết quả này có được nhờ vào sự đối lập giữa vị thế tài sản cơ sở và vị thế Hợp đồng Tương lai mà nhà đầu tư nắm giữ đồng thời khiến cho tỷ lệ lãi và lỗ cso thể bù trừ hay triệt tiêu lẫn nhau.

Tuy nhiên, khi thị trường diễn biến theo xu hướng có lợi, nhà đầu tư sử dụng Hợp đồng Tương lai không có khả năng tận dụng biến động có lợi đó để gia tăng lợi nhuận hay thu nhập cho mình do hiện tượng bù trừ giữa các vị thế đối lập vẫn tiếp tục diễn ra. Đây là một điểm hạn chế của việc sử dụng Hợp đồng Tương lai trong phòng ngừa rủi ro.

Mặt trái của hiệu ứng đòn bẩy

Đòn bẩy tài chính là một trong những đặc điểm nổi bật tạo nên sức hấp dẫn cho Hợp đồng Tương lai nói riêng và cho nhiều loại chứng khoán phái sinh nói chung. Tuy nhiên, hiệu ứng đòn bẩy sẽ chỉ tạo ra lợi nhuận nếu dự đoán của người sử dụng về chiều hướng biến động giá tài sản cơ sở trở thành hiện thực.

Trong trường hợp giá tài sản trên thị trường không trùng khớp với dự đoán ban đầu, việc thua lỗ sẽ không thể tránh khỏi. Ngoài ra, do tác động đòn bẩy, mức độ thua lỗ sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm trên “số vốn ban đầu”.

So sánh Hợp đồng Tương lai và CFD

CFD cũng là một loại chứng khoán phái sinh. Nó là sự kết hợp đặc điểm của hợp đồng tương lai và chứng khoán giao ngay. Bảng dưới đây mô tả sự khác biệt giữa Hợp đồng Tương lai và CFD, giúp bạn lựa chọn công cụ đầu tư phù hợp nhất.

Đặc điểm CFD Hợp đồng tương lai
Nơi giao dịch Thông qua thị trường OTC Giao dịch tại các công ty môi giới đã được sở chứng khoán quy định
Đòn bẩy Cao Cao
Ngày đáo hạn Không có
Quy mô hợp đồng Từ nhỏ đến lớn Lớn
Các loại phí  Phí qua đêm, phí spread Phí môi giới, phí quản lý, lãi suất margin
Ưu điểm – Thực hiện đầu cơ trên biến động giá của tài sản. Có thể sinh lời mà không cần nắm giữ tài sản– Không bị giới hạn về thời gian đáo hạn của hợp đồng– Quy mô hợp đồng đa dạng, đáp ứng nhu cầu vốn từ bé đến lớn của nhà đầu tư – Được niêm yết đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của cơ quan có thẩm quyền– Giúp phòng ngừa rủi ro biến động giá của tài sản cho nhà đầu tư có ý định thực sự mua vào hoặc bán ra loại tài sản đó
Nhược điểm – Vì đầu cơ cao nên áp dụng đòn bẩy cao, chỉ một biến động nhỏ từ 2 – 3% của giá theo hướng bất lợi có thể mất đi nửa số vốn đầu tư.– Yêu cầu nhà đầu tư phải cập nhập thị trường hàng giờ – Hợp đồng có thời hạn đáo hạn vì vậy phải dự đoán đúng diễn biến giá tài sản trong khung thời gian đáo hạn– Quy mô hợp đồng lớn nên yêu cầu vốn ban đầu cao– Phải thanh toán phí quản lý và môi giới cho bên thứ 3 làm nhiệm vụ đảm bảo.

Qua các đặc điểm phân tích thì chúng ta có thể thấy CFD phù hợp với nhà đầu tư mạo hiểm mà không yêu cầu số vốn lớn. Còn hợp đồng tương lai sẽ phù hợp với nhà đầu tư lớn, có ý định trao đổi thương mại hơn là đầu cơ.

Lời kết

Trên đây là những thông tin chia sẻ về hợp đồng tương, cũng như so sánh đặc điểm với CFD. Giúp bạn có một cái nhìn khách quan về các công cụ tài chính này và chọn cho mình một công cụ đầu tư đúng đắn nhất.

Nguồn: https://mbaz.net/clb/topic/chung-khoan-phai-sinh-toan-tap-moi-nhat

Xem thêm

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây