Chủ Nhật, Tháng 1 18, 2026

Tất cả thông tin về chương trình MBA

Học MBA online
Trang chủKỹ NăngChứng KhoánBản chất của việc tăng giảm lãi suất của ngân hàng

Bản chất của việc tăng giảm lãi suất của ngân hàng

Mo tai khoan chung khoan Techcombank so dep tu chon

Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ một người cho vay. Cụ thể, lãi suất (I/m) là phần trăm tiền gốc (P) phải trả cho một số lượng nhất định của thời gian (m) mỗi thời kỳ (thường được tính theo năm).

Ví dụ, một công ty nhỏ vay vốn từ một ngân hàng để mua tài sản mới cho doanh nghiệp của mình, và ngược lại người cho vay nhận được tiền lãi theo lãi suất quy định cho việc trì hoãn sử dụng các khoản tiền và thay vào đó bằng việc cho vay nó cho người vay. Lãi suất thường được thể hiện như một tỷ lệ phần trăm của tiền gốc trong một khoảng thời gian một năm.

Các mục tiêu lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ và được tính tới khi xử lý các biến số như đầu tư, lạm phát và thất nghiệp. Các ngân hàng trung ương hoặc các ngân hàng dự trữ của các nước nói chung có xu hướng giảm lãi suất khi họ muốn tăng cường đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế của đất nước.

Tuy nhiên, một lãi suất thấp như là một chính sách kinh tế vĩ mô có thể là rủi ro và có thể dẫn đến việc tạo ra một bong bóng kinh tế, trong đó một lượng lớn các đầu tư được đổ vào thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán.

Điều này đã xảy ra tại Nhật Bản vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, sinh ra các khoản nợ lớn không được thanh toán cho các ngân hàng Nhật Bản và sự phá sản của các ngân hàng này và gây ra đình lạm trong nền kinh tế Nhật Bản (Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào thời điểm đó), với xuất khẩu trở thành trụ cột cuối cùng cho sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản trong suốt phần còn lại của những năm 1990 và đầu những năm 2000.

Kịch bản tương tự đã sinh ra từ việc hạ lãi suất của Hoa Kỳ kể từ cuối những năm 1990 đến nay (xem khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2012) về căn bản bởi quyết định của Hệ thống Dự trữ Liên bang.

Dưới thời Margaret Thatcher, nền kinh tế của Vương quốc Anh duy trì tăng trưởng ổn định bằng cách không cho phép Ngân hàng Anh giảm lãi suất.

Như thế, trong các nền kinh tế phát triển, các điều chỉnh lãi suất đã được thực hiện để giữ lạm phát trong phạm vi mục tiêu vì sức khỏe của các hoạt động kinh tế, hoặc thiết lập giới hạn trên của lãi suất đồng thời với tăng trưởng kinh tế để bảo vệ đà kinh tế.

Các lý do cho thay đổi lãi suất

  • Lợi ích ngắn hạn chính trị: Giảm lãi suất có thể cung cấp cho nền kinh tế một tăng trưởng ngắn hạn. Trong các điều kiện bình thường, hầu hết các nhà kinh tế nghĩ rằng cắt giảm lãi suất sẽ chỉ cung cấp một lợi ích ngắn hạn trong hoạt động kinh tế, sẽ nhanh chóng bị triệt tiêu bởi lạm phát. Sự tăng trưởng nhanh chóng có thể ảnh hưởng đến các cuộc bầu cử. Hầu hết các nhà kinh tế ủng hộ các ngân hàng trung ương độc lập để hạn chế ảnh hưởng của chính trị tới lãi suất.
  • Tiêu thụ bị hoãn lại: Khi tiền được vay mượn thì người cho vay trì hoãn việc chi tiêu tiền vào các hàng hóa tiêu dùng. Theo thuyết ưu tiên thời gian thì mọi người thích hàng hóa hiện nay hơn là hàng hoá về sau, vì thế trong một thị trường tự do sẽ có một lãi suất dương.
  • Kỳ vọng lạm phát: Hầu hết các nền kinh tế nói chung biểu lộ sự lạm phát, có nghĩa là một số lượng tiền nhất định mua được ít hàng hóa hơn trong tương lai so với nó mua được trong hiện tại. Người vay cần phải bù đắp cho người cho vay vì việc này.
  • Đầu tư thay thế: Người cho vay có thể lựa chọn việc sử dụng tiền của mình trong các đầu tư khác nhau. Nếu anh ta chọn một kiểu đầu tư, anh ta bỏ qua các hoàn vốn từ tất cả những đầu tư khác. Các đầu tư khác nhau cạnh tranh thực sự để giành nguồn tiền bạc.
  • Rủi ro đầu tư: Luôn luôn có một rủi ro là người vay sẽ phá sản, bỏ trốn, chết, hoặc vỡ nợ khoản vay. Điều này có nghĩa là một người cho vay thường tính một phí bù đắp rủi ro để đảm bảo rằng, xuyên suốt các đầu tư của mình, anh ta được bồi thường cho những khoản đầu tư thất bại.
  • Ưu tiên thanh khoản: Mọi người đều muốn các nguồn lực sẵn có của họ dưới hình thức ngay lập tức có thể trao đổi, chứ không phải dưới hình thức cần có thời gian để thực hiện.
  • Thuế: Vì một số thu nhập từ tiền lãi có thể phải chịu thuế, người cho vay có thể đòi hỏi một lãi suất cao hơn để bù đắp cho sự mất mát này.

Thừa vốn vẫn tăng!

Lãi suất huy động tăng đang gây một sức ép nhất định lên lãi suất cho vay và nhiều người quan ngại rằng, điều này có thể ảnh hưởng tới đầu tư, bởi gánh nặng lãi suất của các doanh nghiệp vay vốn sẽ tăng lên.

Nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất cơ bản lên thì đồng USD sẽ tăng, thì nhiều ngân hàng trong nước cũng điều chỉnh lãi suất huy động bằng USD lên mặt bằng lãi suất mới.

Nếu lãi suất huy động USD tăng được lý giải là do ảnh hưởng của lãi suất quốc tế, thì lãi suất VND tăng được nhiều ngân hàng giải thích là nhằm đảm bảo khoảng cách lãi suất giữa hai đồng tiền này, để người gửi tiền không dịch chuyển lượng tiền gửi VND của mình sang USD.

Ngoài ra, còn một số lý do khác, mà nhiều ngân hàng cổ phần đưa ra là, nhằm tăng cường huy động vốn, đáp ứng cho nhu cầu tín dụng và nhu cầu đầu tư của các ngân hàng…

Tăng lãi xuất để thu hút khách hàng

Việc tăng lãi suất không chỉ dựa trên cơ sở cung – cầu vốn, mà căn cứ bởi nhiều lý do khác, đặc biệt là lý do cạnh tranh để giữ thị phần.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Thanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), đây là lần thứ hai trong 5 năm qua, diễn biến lãi suất có phần không phù hợp với những thay đổi của yếu tố thị trường, như lạm phát kỳ vọng thấp hơn năm ngoái, cung về vốn lớn hơn cầu, thể hiện ở vốn khả dụng các ngân hàng thương mại dư thừa lớn…

Theo bà Thanh, một trong những nguyên nhân khiến lãi suất có xu hướng tăng trong điều kiện nguồn vốn VND về tổng thể là dư thừa kéo dài trong vài tháng, đó là sự phát triển của thị trường liên ngân hàng còn hạn chế và việc quản trị nguồn vốn của các ngân hàng thương mại còn những bất cập nhất định.

Cụ thể, đối với nhiều ngân hàng cổ phần nhỏ, nguồn vốn huy động vẫn thiếu so với nhu cầu cho vay, nhưng họ lại khó tiếp cận được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các ngân hàng lớn, nên buộc phải tăng lãi suất để huy động vốn ngoài thị trường.

Còn đối với các ngân hàng lớn, chủ yếu là các ngân hàng thương mại nhà nước, với mạng lưới rộng và uy tín đối với người gửi tiền, nguồn vốn khả dụng dư thừa nhưng không dám hạ lãi suất vì sợ mất khách hàng. Đồng thời, do tâm lý sợ mất khả năng thanh khoản do sự kém thông suốt của thị trường, nên buộc các ngân hàng này phải dự trữ mức thanh khoản lớn (có những lúc dự trữ thanh khoản trước 10 ngày nhu cầu phát sinh).

“Nếu như thị trường tiền tệ phát triển tốt, nhất là thị trường liên ngân hàng, khả năng quản trị nguồn vốn của các ngân hàng tốt hơn thì sự thiếu – thừa vốn giữa các ngân hàng sẽ được bù đắp và tình trạng trên sẽ không xảy ra”, bà Thanh cho biết.

Tăng lãi suất vì giá cổ phiếu?

Ở một góc độ khác, lãnh đạo một công ty quản lý quỹ đầu tư lại cho rằng, đối với khối ngân hàng cổ phần, không phải tất cả các ngân hàng đều thiếu vốn để cho vay, nhưng hầu hết đều tăng lãi suất huy động. Theo vị lãnh đạo này, ngoài lý do cạnh tranh để mở rộng thị phần huy động vốn và tăng thêm khách hàng gửi tiền, còn có một lý do khác liên quan đến giá cổ phiếu.

Cụ thể, trong khi cổ phiếu ngân hàng đang được quan tâm trên thị trường, nhiều ngân hàng đã tăng vốn điều lệ của mình để gia nhập câu lạc bộ 1.000 tỷ đồng. Ngoài việc tăng vốn điều lệ thì yêu cầu đẩy mạnh huy động vốn để tăng tổng tài sản của mình cũng được đặt ra. Tổng tài sản cũng là một chỉ tiêu quan trọng về mặt quy mô, ảnh hưởng tới giá cổ phiếu ngân hàng.

Cũng theo vị lãnh đạo này, nguồn vốn huy động hiện chiếm khoảng 70 – 80% tổng tài sản của một ngân hàng Việt Nam. Chính vì vậy, để tăng tổng tài sản thì việc tăng huy động vốn là một yêu cầu tất yếu.

Tăng lãi xuất huy động vốn của ngân hàng còn để gia tăng vốn để tăng volume margin cho các công ty chứng khoán vay để có đủ vốn cho nhà đầu tư vay đầu tư.

Trong khối ngân hàng cổ phần hiện nay, ngân hàng có vốn điều lệ cao nhất là Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – 1.899 tỷ đồng, nhưng ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất lại là Ngân hàng Á Châu (ACB), với mức trên 33.000 tỷ đồng, gần gấp đôi Sacombank.

Ngoài lý do về chất lượng hoạt động, bề dày cũng như uy tín thương hiệu thì quy mô hoạt động lớn cũng là lý do khiến giá cổ phiếu ACB trên thị trường được chào bán với mức gấp hơn 15 lần mệnh giá, cao nhất so với giá cổ phiếu các ngân hàng cổ phần khác, trong khi giá cổ phiếu của Sacombank trên sàn giao dịch gấp khoảng 8 lần mệnh giá.

Thông tin mới cập nhật

Đây là lần thứ ba kể từ đầu năm NHNN giảm đồng loạt các mức lãi suất điều hành để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, giảm chi phí vay vốn của DN và người dân.

Lý giải cho lần điều chỉnh này, NHNN cho biết, từ đầu năm đến nay, NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ và giảm mặt bằng lãi suất thị trường, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2020 đạt 2,12%, lạm phát được kiểm soát, bình quân 9 tháng đạt 3,85%. Việc quyết định giảm thêm lãi suất điều hành theo NHNN nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế.

Từ nay đến cuối năm, dù vẫn còn khả năng hạ lãi suất thêm lần nữa, nhưng khó xảy ra nếu quá trình phục hồi kinh tế cả trong nước và thế giới tốt hơn.

Các biện pháp để vượt qua khủng hoảng kinh tế:

1. Tiến hành xây dựng hạ tầng cơ sở với quy mô lớn nhằm tăng việc làm và kích thích tiêu dùng;
2. Tiến hành cách mạng công nghệ mới nhằm kéo theo một đợt cất cánh kinh tế mới;
3. Phát động chiến tranh để kích thích tiêu dùng và sản xuất, kiểm soát tài nguyên và giao thông vận tải, khơi dậy tiềm năng tâm lý “thoát ra khỏi đáy vực” khủng hoảng.

Để hỗ trợ tốt hơn cho nền kinh tế, theo đề xuất của TS. Nguyễn Đức Độ, thời gian tới, chính sách tài khóa cần phải đẩy mạnh hơn như giải ngân đầu tư công… Thông qua chính sách này, tiền bơm trực tiếp vào nền kinh tế thông qua chi tiêu, nhu cầu đầu tư cũng cao hơn.

Hoặc Việt Nam nối lại chính sách thương mại với các nước trên thế giới sẽ thúc đẩy nhu cầu đầu tư của DN tăng lên, kích thích họ vay vốn ngân hàng nhiều hơn. Khi đó, tính nhạy cảm lãi suất sẽ tích cực hơn. Còn hiện tại, tính nhạy cảm của tổng cầu đang cao hơn so với lãi suất.

Chương trình ưu đãi đặc biệt: Mở tài khoản chứng khoán Techcombank Securities với Cố vấn đầu tư cao cấp, quản lý tài sản và ủy quyền đầu tư. Chi tiết liên hệ Hotline/ Zalo/ Telegram: 0905 889 188Mo tai khoan chung khoan Techcombank so dep tu chon
Hung.MBA
Hung.MBAhttps://mbaz.net
Mình là Hung.MBA, tốt nghiệp MBA của RMIT Việt Nam. Đây là Blog cá nhân của mình. Là một doanh nhân người Việt, hiện đang đương nhiệm vai trò: CEO của HSMA | Mentor cho VDomain | Co-Founder của Lelp >>> Tự nhận thấy: - Yêu màu hồng, ghét sự giả dối. - Thích màu tím thủy chung, ghét sự cô đơn. - Sống nội tâm, hay khóc thầm và yêu bóng tối. - Thích thể thao, đam mê công nghệ. - Thích linh tinh thì làm marketing.
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin mới nhất