Suy thoái – Một từ được báo chí đề cập khá thường xuyên khi tường thuật tình hình kinh tế Mỹ trong vòng xoáy lạm phát là khả năng xảy ra “suy thoái kinh tế”. Thế nhưng hầu như không có bài báo nào chịu định nghĩa cho tường minh khái niệm này.
Nếu và khi suy thoái xảy ra, hầu hết chúng ta đều biết rằng tỉ lệ thất nghiệp tăng, giờ làm việc giảm, công việc bán thời gian sẽ tăng lên, lãi suất, chi tiêu và giá cổ phiếu sẽ giảm.
A – SUY THOÁI
Nhiều người cứ nghĩ suy thoái kinh tế xảy ra khi GDP của một nước sụt giảm trong hai quí liên tiếp. Thế nhưng theo tờ Wall Street Journal, không có một định nghĩa chính xác cho tình trạng này; có thể ở nước khác, suy thoái kinh tế xảy ra khi GDP sụt giảm hai quí liên tiếp, nhưng ở Mỹ trách nhiệm xác định khi nào suy thoái kinh tế diễn ra và khi nào kết thúc được trao cho một hội đồng thuộc Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER). Gọi là Cục (Bureau) nhưng NBER thực chất là một tổ chức học thuật phi lợi nhuận. Trên trang web của mình, NBER viết: “Suy thoái là sự sụt giảm đáng kể trong hoạt động kinh tế trên diện rộng và kéo dài vài tháng” – một định nghĩa khá mơ hồ.
Lần tuyên bố kinh tế rơi vào suy thoái gần đây nhất của NBER là vào năm 2020, lúc bắt đầu đại dịch Covid-19, nhưng lần đó suy thoái chỉ kéo dài mấy tháng. Nhiệm vụ xác định ngày tháng bắt đầu và kết thúc một đợt suy thoái là thuộc Ủy ban Định ngày chu kỳ kinh doanh của NBER, gồm 8 thành viên là các nhà kinh tế thuộc các trường đại học ở khắp Mỹ.
Thông thường, sau khi một đợt suy thoái đã kết thúc vài tháng hay thậm chí vài năm rồi họ mới đưa ra các mốc ngày tháng cụ thể. Như thế nhiệm vụ của NBER không phải là xác định suy thoái theo thời gian thật, mà nghiên cứu, rà soát mọi dữ liệu để xác định cho chính xác dù có độ trễ.
![]() |
Cho đến nay NBER đã xác định 12 cuộc suy thoái tính từ năm 1948, tính ra chừng sáu năm xảy ra một cuộc. Ông Bob Hall, chủ tịch hiện nay của ủy ban cho biết họ xem xét một loạt nhiều dữ liệu kinh tế:
- GDP
- Số liệu thất nghiệp
- Thu nhập hộ gia đình
- Chi tiêu cá nhân
- Doanh số bán lẻ
- Sản xuất công nghiệp
Để đi đến quyết định – không có chỉ tiêu nào quan trọng hơn chỉ tiêu nào.
Xác định ngày tháng là khó nhưng theo ông Hall, ủy ban biết ngay có suy thoái một khi suy thoái diễn ra, thông thường là một sự sụt giảm mạnh sản lượng và việc làm. NBER từng cho thấy sụt giảm GDP trong sáu tháng liên tục chưa chắc đã là suy thoái; chẳng hạn lần kinh tế đi xuống khi đại dịch bùng phát dù chỉ kéo dài vài ba tháng nhưng vẫn được tính là “suy thoái” do mức độ nghiêm trọng của nó. Ngược lại, có lần sản lượng sụt giảm nhẹ nhưng liên tục trong hơn sáu tháng đã không đáp ứng tiêu chí của NBER nên họ không xem đó là suy thoái.
Ở đây có lẽ phải nhắc lại quan điểm của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), họ cũng cho rằng không có định nghĩa chính thức về suy thoái kinh tế, nhưng người ta thường dựa vào hai yếu tố: mức sụt giảm kinh tế và thời gian kéo dài.
IMF cho rằng nhiều nhà phân tích dùng khung thời gian hai quý liên tiếp để tiện xác định và mức sụt giảm GDP, 2% gọi là suy thoái còn trong khoảng 5% gọi là suy thoái nghiêm trọng. Tuy nhiên IMF cũng cho biết cách xác định như thế có thể tiện lợi nhưng cũng có khiếm khuyết vì GDP không thôi không đủ để đo lường sức khỏe kinh tế của một nước. IMF khuyến cáo nên dựa vào nhiều yếu tố khác để đo lường chính xác và kịp thời hơn.
Suy thoái kinh tế thường kéo dài trong bao lâu?
Wall Street Journal cho rằng còn tùy, như cuộc suy thoái năm 2008 sau khi thị trường nhà đất sụp đổ đã kéo dài đến 18 tháng (từ tháng 12-2007 đến tháng 6-2009), mức độ khá nghiêm trọng (GDP sụt giảm 3,7%). Các cuộc suy thoái ở Mỹ diễn ra trước đó thường kéo dài trong 11 tháng và mức độ sụt giảm chừng 1,7%.
Nhân đây xin nhắc đến một định nghĩa khác, cũng có liên quan là “thị trường gấu” trong chứng khoán. Thị trường chứng khoán hiện được xem đã chuyển sang tình trạng “bear market” – được định nghĩa chính thức là khi giá cổ phiếu trên thị trường sụt giảm từ 20% trở lên so với mốc cao nhất trước đó.
Thị trường gấu gần đây nhất cũng là khi đại dịch bùng phát, cổ phiếu sụt giá đến một phần ba trong vòng 33 ngày vào đầu năm 2020 và phải mất sáu tháng sau mới phục hồi mức cũ. Lần “gấu ngủ đông” này chưa biết sẽ kéo dài bao lâu.
Mặc dù “thị trường gấu” chưa hẳn là dấu hiệu của một đợt suy thoái kinh tế sắp diễn ra, nhiều nhà kinh tế cho rằng khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái là rất cao như nhận định của một chuyên gia do Wall Street Journal trích dẫn: “Tôi nghĩ chúng ta cần chuẩn bị cho khả năng GDP sẽ quanh quẩn ở mức 0% trong vài qúy, có nghĩa chúng ta sẽ có vài ba đợt suy thoái kỹ thuật trước khi năm 2023 kết thúc”.
Riêng NBER thì không có ý kiến – vì chính sách của họ là không bình luận các vấn đề suy thoái trước khi ủy ban đã xem kỹ các dữ liệu và có quyết định chính thức. Có lẽ phải chờ suy thoái diễn ra, kéo dài rồi kết thúc một thời gian sau NBER mới có công bố.
Lịch sử các cuộc khủng hoảng Kinh tế – Tài chính có ảnh hưởng lớn từ thế kỷ 17 đến nay
Nhiều người lo ngại rằng với sự ra đời và phát triển mạnh của Bitcoin, “bong bóng” khủng hoảng kinh tế này sẽ lại một lần nữa khiến thế giới chao đảo.
Đã hàng thế kỷ trôi qua, những bong bóng khủng hoảng kinh tế – tài chính được lặp đi lặp lại nhiều lần, từ “hội chứng hoa tulip” trong thế kỷ XVII đến “cuộc khủng hoảng thế chấp độc hại” năm 2007 – 2008, khiến hàng ngàn người bị mất nhà cửa.
Bình luận về hiện tượng này, ông Markus K. Brunnermeier – giáo sư kinh tế Đại học Princeton tại Mỹ, giải thích: “Những cuộc khủng hoảng thường xảy ra khi giá của một sản phẩm được đẩy lên rất cao, ngay cả khi người ta không nghiên cứu kỹ càng về nó. Bong bóng thường xuất hiện trong những giai đoạn đổi mới, có thể là những biến đổi về trong giới công nghệ và tài chính như tàu hỏa, internet. Ở thời điểm hiện tại, chúng ta đang phải đối mặt với một bong bóng mới là tiền ảo Bitcoin”.
Còn theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách vĩ mô Ann Pettifor tại London, “Những bong bóng khủng hoảng kinh tế lớn như dot com hoặc có thể là Bitcoin dễ xảy ra vì chu kỳ hoạt động kinh tế và giá cả phát triển theo cấp số nhân. Trong khi đó, các thể chế và quy định tài chính bị suy yếu, khiến cho những ảo tưởng về giá trị của chúng ngày càng trở nên sâu rộng và có thể dẫn tới những bong bóng khủng hoảng kinh tế”.
Chúng ta hãy cùng điểm qua một số cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính có sức ảnh hưởng mang tính khu vực và toàn cầu.
Các cuộc khủng hoảng lớn & có sức ảnh hưởng nhất trên thế giới từ thế kỷ 17 đến nay
Cuộc khủng hoảng đầu tiên trên thế giới: Khủng hoảng hoa Tulip thế kỷ XVII (1636-1637) – hay còn gọi là Hội chứng khoa Tulip ở Hà Lan
Vào thế kỷ XVII, có thời điểm mọi người đổ xô đi mua hoa tulip nhiều màu đến từ Hà Lan. Giá cả của những bông hoa này cao đến mức cắt cổ, khiến mọi người bắt đầu bán nhà để có thể mua được chúng. Thậm chí, ngay cả những bông hoa chưa thu hoạch cũng có một thị trường của riêng mình.
Tuy nhiên, sự leo thang về giá cả đã kết thúc vào một ngày của năm 1637 chỉ vì một tin đồn dịch bệnh phát tán từ loài hoa này. Những người đã mua hoa bắt đầu rao bán một cách tuyệt vọng, tạo ra một sự sụt giảm mạnh về giá cả.
Sự hoảng loạn về tài chính lan rộng ra chủ nhân của những vườn tulip và chỉ trong chốc lát, nền kinh tế Hà Lan vốn quá phụ thuộc vào sản phẩm này đã sụp đổ.
Bong bóng tại Mississippi năm 1720 – Pháp
Năm 1716, nước Pháp rơi vào tình trạng cạn kiệt nguồn tiền kim loại quý và ngập trong đống nợ. Để giải quyết khủng hoảng, hoàng gia Pháp đã nhờ tới chuyên gia kinh tế người Scotland có tên John Law, người được mệnh danh là một phù thủy tài chính. John Law đã gợi ý nước này sử dụng đồng tiền giấy để vực dậy nền kinh tế. Với sự trợ giúp của hoàng gia, Law đã lập ra một ngân hàng, đồng thời phát hành tiền giấy.
Một năm sau đó, Law lập ra Công ty Mississippi rồi trở thành công ty thương mại hoạt động độc quyền tại vùng lãnh thổ Louisiana của Pháp (nay thuộc Mỹ). Công ty Mississippi bắt đầu bán cổ phần đổi lấy trái phiếu chính phủ và tiền giấy. Sự việc này đã nhanh chóng gây một cơn sốt trong lòng công chúng. Trong vòng chưa đầy 1 năm, giá trị mỗi lá phiếu đã tăng kinh khủng, từ 500 livre tới 18.000 livre (đơn vị tiền tệ của Pháp lưu hành khoảng năm 781–1794).
Thoạt đầu kế hoạch tài chính của Law đã tác động tích cực đến nền kinh tế và giúp nhiều nhà đầu cơ trở nên giàu có. Tuy nhiên, Công ty Mississippi này chưa bao giờ kinh doanh thành công trên đất Louisiana. Ngoài ra, ngân hàng của ông còn in quá nhiều tiền giấy để đáp ứng nhu cầu mua cổ phiếu của giới đầu tư, dẫn đến tình trạng lạm phát tăng vọt.
Năm 1720, toàn bộ hệ thống tài chính này đã sụp đổ, sau khi xảy ra tình trạng các nhà đầu tư nghi ngờ đòi đổi tiền giấy. Trong khi đó, thực tế số đồng xu vàng mà nhà nước hiện có lại rất ít ỏi, không đủ để quy trả cho một bộ phận người dân. Ngay lập tức, một luồng sóng bán tháo đã diễn ra trong hoảng loạn, kéo theo sự lao dốc của cổ phiếu Công ty Mississippi. Hàng ngàn triệu phú mới nổi biến thành kẻ bần cùng chỉ sau một đêm. “Kẻ lập công” Law sau khi “bại trận” đã bị trục xuất khỏi nước Pháp.
Bong bóng của Công ty Nam Hải (Nam Dương) – South Sea Bubble thế kỷ XVIII (1720) ở Anh
không chịu kém cạnh với người pháp, người anh cũng tự tạo cho mình một cuộc đổ vỡ thị trường riêng!
Vào đầu thế kỷ XVIII, Công ty Nam hải của Anh đã có độc quyền thương mại với các thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ Latin. Công ty này đã thiết lập tuyến thương mại đầu tiên tới khu vực Mỹ Latin vào năm 1717 và bắt đầu thổi phồng những thành tích về hoạt động thương mại đó.
Điều này khiến giá trị cổ phiếu của Công ty tăng vọt, từ 128 lên 1.000 bảng Anh chỉ trong vòng nửa năm. Mọi người đều muốn mua cổ phiếu của công ty. Ngay cả Nghị viện Anh cũng cho phép công ty có thêm vốn tín dụng để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Sự gia tăng nhanh chóng giá cổ phiếu đã gây ra cơn khát đầu cơ điên cuồng trên khắp nước Anh. Việc mua chứng khoán còn được mở rộng sang các công ty khác mà thu nhập thực tế không được chứng minh.
Nhưng khi nguồn lực kinh tế của những người tiết kiệm nhỏ bắt đầu cạn kiệt thì tình hình trở nên khó khăn. Tình huống càng trở nên phức tạp hơn khi các nhà đầu tư bắt đầu mua chứng khoán với số tiền vay mượn từ chính Công ty Nam hải.
Khi đến hạn trả nợ, nhiều nhà đầu tư đã không có đủ tiền và bắt đầu bán cổ phiếu của họ. Giá cổ phiếu sụt giảm thảm hại, đẩy nhiều ngân hàng vào tình trạng phá sản và nền kinh tế Anh vào thế lụn bại.
Khủng hoảng tín dụng 1772
Khủng hoảng tín dụng năm 1772 khởi đầu từ London, cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan ra toàn châu Âu.
Những năm 1760 và 1770, vương triều Anh trở nên vô cùng giàu có nhờ vào thương mại và thuộc địa.
Các ngân hàng nước này phóng khoáng hơn trong việc cho vay tín dụng với niềm tin về một viễn cảnh thịnh vượng. Ngày 8/6/1772, Alexander Fordyce – một trong những đối tác của ngân hàng Neal, James, Fordyce, và Down – mang theo khoản nợ chưa thanh toán chạy trốn sang Pháp.
Tin tức lan nhanh và dấy lên sự hỗn loạn cho các ngân hàng Anh. Các chủ nợ đứng chật kín trước của ngân hàng đòi rút tiền. Khủng hoảng lan nhanh đến Scotland, Hà Lan, nhiều vùng khác ở châu Âu và các thuộc địa khu vực châu Mỹ của Anh. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng được xem là 1 trong những tác nhân dẫn đến nổi loạn tiệc trà Boston và Cách mạng Mỹ.
Hỗn loạn cổ phiếu đường sắt
Những năm 1840, sự ra đời của hệ thống đường sắt hiện đại đã thổi bùng lên cuộc cách mạng công nghệ ở Anh. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi đã có hàng trăm dự án đường ray được Quốc hội Anh phê chuẩn, với tổng chiều dài hơn 15.000 km. Dự án sau luôn tham vọng và hoành tráng hơn dự án trước nó.
Theo học giả Andrew Odlyzko, lượng tiền mà chính phủ đầu tư cho việc xây dựng đường sắt có lúc còn nhiều gấp đôi số tiền chi vào quân đội. Nhờ vậy mà cổ phiếu đường sắt trở thành một hạng mục thu hút các nhà kinh doanh đầu cơ ồ ạt.
Bất chấp niềm tin tưởng của giới đầu tư, ngành công nghiệp đường sắt lại thể hiện không ổn định. Sau đỉnh điểm vào năm 1845, giá cổ phiếu đường sắt phải trải qua nhiều năm lao dốc đau đớn. Tính đến năm 1850, các khoản đầu tư bốc hơi 50% giá trị. Hàng ngàn người như ngồi trong chảo lửa, trong đó có nữ tiểu thuyết gia nổi tiếng Charlotte Bronte, khi những lá phiếu của cô tụt giá từ 120 bảng xuống còn xấp xỉ 20 bảng. “Rất, rất nhiều người bị hệ thống đường sắt kỳ lạ này cướp đi miếng ăn hàng ngày”, bà viết.
Ngày thứ Sáu đen tối năm 1869
Thị trường vàng năm này bị đầu cơ và lũng đoạn bởi hai thương gia James Fisk và Jay Gould. Lợi dụng những liên kết với chính trị gia Ulysses S. Grant, hai người đã đẩy giá vàng lên mức cao chưa từng có trong lịch sử 100 năm trước đó là 162USD/ounce. Sau đó khi chính phủ tung vàng ra đáp ứng nhu cầu thì giá vàng giảm rất mạnh trong khi hai thương gia đã kịp thoái hết số vàng của mình.
Sụp đổ thị trường chứng khoán Paris năm 1882
Được châm ngòi bởi sự đổ vỡ của ngân hàng l’Union Generale, khoảng 1/4 nhà môi giới trên thị trường chứng khoán Paris bị đe dọa phá sản. Nguyên do là giá cổ phiếu của ngân hàng tăng mạnh làm các nhà đầu tư đổ nhiều tiền hơn nữa vào các hợp đồng kỳ hạn với hy vọng giá còn tăng.
Khi những dấu hiệu đổ vỡ xuất hiện thông qua chi phí bảo hiểm hợp đồng tăng, các nhà đầu tư lại bán tháo cổ phiếu tạo nên sự hỗn loạn của thị trường. Hậu quả của sự sụp đổ này kéo dài đến cuối thập kỉ đó mới chấm dứt.
Nỗi sợ hãi năm 1907
Thị trường chứng khoán New York mất điểm 50% so với đỉnh năm trước. Bắt đầu bởi những nỗ lực lũng đoạn cổ phiếu của công ty United Copper vào tháng 10 năm 1907. Những ngân hàng cho vay để thao túng giá cổ phiếu bị thiếu thanh khoản trầm trọng.
Khi đó Mỹ chưa có ngân hàng trung ương để bơm thanh khoản vào thị trường nên mọi thứ càng trở nên hỗn loạn. Cho đến khi J. P. Morgan kêu gọi những nhà lãnh đạo các quỹ tín thác bỏ tiền ra để giúp hệ thống ngân hàng. Cuộc khủng hoảng cũng có điểm tích cực là đã giúp thúc đẩy hình thành Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED).
Quả bom nhà đất Florida
Cơn sốt ảo tại “Vùng đất của ánh nắng” Florida đốt cháy tiền bạc của giới đầu tư.
Bang Florida của Mỹ nổi tiếng là vùng đất của sự sôi động. Năm 1920, dân số ở khu vực này khoảng 968.000 người nhưng chỉ 5 năm sau đó, con số này đã tăng lên trên 1.263.000 người. Điều gì đã dẫn đến sự gia tăng này?
Vào thời điểm gọi là “Tiếng gầm của thập niên 20”, nền kinh tế Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đang trên đà phát triển hưng thịnh. Người công nhân lành nghề được trả lương hậu hĩnh, đời sống ổn định, nên họ bắt đầu nghĩ đến việc mua nhà để sinh sống. Rất đông người quyết định đến vùng “thiên đường nhiệt đới” này để tìm mua nhà giá rẻ. Thị trường nhà đất tại đây đã diễn ra rất sôi nổi. Khoảng giữa những năm 1920, giá nhà thường vụt tăng gấp đôi chỉ sau vài tháng.
Cơn sốt mua nhà giá thấp bán giá cao đã khiến nhiều người đầu cơ tiếp tục mạnh tay rót vốn, mặc dù họ thậm chí chưa bao giờ đặt chân tới Florida. Không ít trường hợp kẻ đầu tư không có đủ tiền mua nhà, mới chỉ đặt cọc một phần tiền đã kịp thời sang tay cho người khác để kiếm lời. Tình trạng mua đi bán lại có phần mù quáng đã tạo điều kiện cho những kẻ lừa đảo kiếm chác bằng các miếng đất ảo hoặc có vị trí xấu.
Giá nhà bị thổi phồng kéo theo nạn lạm phát đã khiến cuộc sống ở Florida trở nên khó thở. Báo chí Mỹ bắt đầu viết về thực trạng người dân có xu hướng rời bỏ vùng đất này, bên cạnh một thực tế là tuyến đường sắt chở vật liệu xây dựng tới đây đã quá tải và ngừng hoạt động. Điều này đã khiến các khách mua trở nên thận trọng hơn. Một loạt các vụ thiên tai sau đó đã tước mất danh hiệu “vùng đất thiên đường” của Florida, hàng ngàn héc ta đất đắt đỏ không có người mua, các nhà đầu cơ bất động sản bỗng rơi vào cảnh thua lỗ, phá sản.
Năm 1929 và cuộc khủng hoảng lịch sử: Đại khủng hoảng – The Great Depression/Đại suy thoái – (1929-1939) ở Mỹ
Thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu – đại khủng hoảng năm 1929
Trong thời kỳ vàng son thập niên 1920, chứng khoán Mỹ bùng nổ như chưa từng diễn ra trước đây. Vô số người dân thường Mỹ dùng những khoản vay dài hạn đầu tư vào chứng khoán, với giấc mộng giàu có và họ đã được đền bù bằng lợi nhuận tăng lên gấp bốn lần trong khoảng thời gian 1920-1929.
Người đầu tư chứng khoán tự tin thực hiện các giao dịch ký quỹ, bằng cách mượn tiền của nhà môi giới, trong khi các ngân hàng bắt đầu đầu cơ tiền của khách hàng mà không tuân thủ quy định. Tới cuối năm 1929, giá chứng khoán tăng với tốc độ không tưởng. Các bộ phận khác của nền kinh tế không theo kịp tốc độ leo thang của thị trường chứng khoán, đã làm dấy lên những đồn đại về khả năng xảy ra một sự đổ vỡ. Thấy vậy, rất nhiều nhà kinh tế uy tín hàng đầu nước Mỹ đã trấn an người đầu tư, bằng lời cam kết rằng “thị trường có xu hướng tăng giá”.
Sự lạc quan cuối cùng cũng biến mất vào ngày 24/10/1929, được biết tới như “Ngày thứ Năm đen tối”. Các chỉ số chứng khoán ngày hôm đó đã “cắm đầu lao thẳng”. Các nhà đầu tư đã thực hiện 13 triệu giao dịch bán tháo hoặc chuyển đổi trong cơn hoảng loạn, khiến bảng điểm ở các sàn chứng khoán Phố Wall không thể đăng tải kịp các hoạt động giao dịch.
Sự đổ vỡ kinh hoàng tiếp tục xảy ra vào “Ngày thứ ba đen tối” (29/10/1929), khi thị trường ghi nhận đà tụt dốc nhanh hơn trước. Hàng tỷ USD đã bốc hơi khỏi nền kinh tế, khởi đầu một quá trình tài chính hỗn loạn, với việc 4.000 ngân hàng đổ vỡ vào năm 1933. Sự rối ren này đã dẫn tới cuộc Đại suy thoái chấn động lịch sử, gây hậu quả nặng nề cho nước Mỹ và lan rộng ra châu Âu trong suốt một thập kỷ. Nhà nghiên cứu Boris Borisov ước tính, số nạn nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ là hơn 7 triệu người.
Cuộc khủng hoảng này đã ghi dấu ấn mãi mãi trong lịch sử, khi nó không chỉ tàn phá nền kinh tế Mỹ, mở ra thời kỳ Đại Suy thoái tại quốc gia này mà còn tác động đến toàn thế giới.
Khủng hoảng giá dầu OPEC 1973
Cuộc khủng hoảng giá dầu khiến chỉ số FT30 của Sở Giao dịch Chứng khoán London bốc hơi 73% giá trị, GDP của Mỹ giảm 3,2%
Khủng hoảng nổ ra khi các quốc gia thuộc Tổ chức Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) quyết định trả đũa nước Mỹ vì hỗ trợ vũ trang cho Israel trong thời kỳ chiến tranh lần thứ tư giữa Arab và Israel.
Các nước OPEC tuyên bố cấm vận dầu mỏ, ngừng xuất khẩu dầu cho Mỹ cũng như các nước đồng minh, dẫn đến việc thiếu dầu trầm trọng và tăng giá dầu, nặng nề hơn là khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và nhiều quốc gia phát triển.
Tình hình lạm phát cao gây ra bởi giá xăng dầu tăng và kinh tế suy thoái do khủng hoảng kinh tế diễn ra cùng lúc. Thời kỳ lạm phát đình trệ – stagflation – được nhiều nhà kinh tế học ghi nhận. Phải tốn đến vài năm sau đó thì sản xuất kinh doanh mới hồi phục và lạm phát trở về mức trước khi khủng hoảng xảy ra.
Khủng hoảng châu Á 1997 – Thái Lan
Khủng hoảng xảy ra ở Thái Lan năm 1997 và lan rộng đến các nước Đông Á. Dòng vốn đầu cơ từ các nước phát triển đổ vào các quốc gia Đông Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hong Kong và Hàn Quốc.
Dòng vốn khổng lồ tạo ra tín dụng phóng khoáng, tích lũy nợ ở những nền kinh tế này. Vào tháng 7/1997, chính phủ Thái Lan đã xóa bỏ tỷ giá hối đoái cố định với đồng dollar vốn đã tồn tại quá lâu, dẫn đến thiếu ngoại tệ trong thị trường.
Thị trường tài chính châu Á trở nên hỗn loạn, nhanh chóng kéo theo hàng triệu USD đầu tư nước ngoài ồ ạt rút đi. Hiệu ứng lan tỏa khiến cho các nhà đầu tư lo sợ sự sụp đổ thị trường Đông Á có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFM) đã phải vào cuộc bằng việc đưa ra gói hỗ trợ cho những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất – nhằm tránh việc vỡ nợ xảy ra.
Sự sụp đổ của các công ty “dot com”: Bong bóng dot com (1995 – 2001) hay còn được gọi là bong bóng Y2K ở Mỹ
Quá trình phát triển chóng mặt của internet vào cuối những năm 1990 đã dẫn tới cái gọi bong bóng “dot com”. Giá trị của một số công ty công nghệ được đánh giá quá cao so với thu nhập thực tế của họ. Một số doanh nhân đã trở thành triệu phú, còn các nhà đầu tư đổ xô đi mua chứng khoán mà họ cho là sẽ tiếp tục tăng giá trị. Nhiều công ty dot com được định giá tới hàng tỷ USD, trong khi chỉ số chứng khoán Nasdaq Composite của các công ty này tăng theo cấp số nhân.
Mặc dù ông Alan Greenspan, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang đã ” cảnh báo về sự gia tăng giá cả bất hợp lý, nhưng cơn sốt đầu tư vẫn tiếp tục và chỉ hạ nhiệt vào cuối tháng 10/2002, khi các báo cáo chỉ ra rằng nhiều công ty đang làm ăn không có lãi. Giá trị các cổ phiếu dần chạm đáy và chẳng bao lâu sau đã khiến nước Mỹ một lần nữa rơi vào suy thoái, khiến kinh tế toàn cầu lao đao.
Cuộc khủng hoảng thế chấp độc hại: Khủng hoảng tài chính toàn cầu/Đại suy thoái – Great Recession (2007-2009) ở Mỹ
Cuộc suy thoái toàn cầu 2009
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây nhất đã bùng phát vào cuối thập niên vừa qua. “Cuộc khủng hoảng thế chấp độc hại” này xảy ra khi các ngân hàng Mỹ cho vay thế chấp mua nhà lãi suất cao với những người không có khả năng thanh toán tài chính. Sau đó, số ngân hàng này đã tập trung đầu tư vào lĩnh vực không có nhiều lợi nhuận, cũng như bán lại nhiều lần trên thị trường tài chính.
Bong bóng tài chính bùng nổ khi các khoản nợ tín dụng không thể được chi trả, giá nhà đất chạm đáy, trong khi hàng triệu người mất nhà cửa. Thị trường chứng khoán sụp đổ, thất nghiệp tăng cao, hệ thống ngân hàng lao đao, mà đỉnh điểm là việc ngân hàng Lehman Brothers đệ đơn phá sản vào năm 2008.
Đáng chú ý, mặc dù bắt nguồn gốc từ Mỹ, nhưng cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan sang các quốc gia khác, tạo thành một thảm họa tài chính đối với những nền kinh tế không thể tự bảo vệ được mình. “Căn bệnh” này đã gây ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của kinh tế thế giới và khiến nhiều nước một lần nữa rơi vào suy thoái.
Cuộc khủng hoảng kinh tế nào nghiêm trọng nhất trong lịch sử thế giới?
Trong các cuộc khủng hoảng kể trên, theo Britannica, có 5 cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất thế giới (liệt kê bên dưới). Trong đó có đến 2 cuộc xảy ra tại Mỹ vào giai đoạn 1929-1939 và 2007-2008.
- Khủng hoảng tín dụng 1772
- Đại suy thoái 1929-1939
- Khủng hoảng giá dầu OPEC 1973
- Khủng hoảng châu Á 1997
- Khủng hoảng tài chính 2007-2008
Dù cuộc khủng hoảng nào đi chăng nữa thì sức ảnh hưởng của nó không dừng lại ở một quốc gia. Đặc biệt trong điều kiện kinh doanh quốc tế như hiện nay, mọi thứ đều kết nối internet, các quốc gia giao thương với nhau với các đồng tiền quốc tế như USD, tiền tệ giao dịch qua ngân hàng, chúng được số hóa nên sẽ càng tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Thế giới sẽ không muốn có thêm một cuộc khủng hoảng nào liên quan đến tài chính, tiền tệ, hàng hóa… một lần nữa!
Kết luận
Bong bóng kinh tế xảy ra khi hiện tượng đầu cơ tràn lan trên thị trường, làm giá cả hàng hóa hoặc tài sản giao dịch tăng đột biến đến mức không tưởng.
Song theo quy luật, bong bóng mong manh này chắc chắn sẽ vỡ tung, và hậu quả của nó đủ kinh khủng để cuốn sạch tài sản của giới đầu tư, cũng như nhấn chìm nền kinh tế thế giới. Từ cơn cuồng loạn “Hoa tulip Hà Lan” hồi thế kỷ 17 tới cuộc Đại khủng hoảng thị trường Phố Wall năm 1929 (ngày thứ Ba đen tối) chính là những bài học kinh tế xương máu mà lịch sử không thể nào quên lãng.
B – LẠM PHÁT
Lạm phát là sự gia tăng chung của mức giá cả trong nền kinh tế. Sức mua giảm là hậu quả chính của Lạm phát.
Ví dụ. Nếu một khách hàng có 100 đô la để mua các sản phẩm đã chọn trong năm 2016, họ sẽ không thể mua cùng một lượng sản phẩm với 100 đô la sau 2 năm vì giá sẽ tăng vào thời điểm đó.
Đo lường lạm phát
Lạm phát được đo lường bằng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo lường giá trung bình của một mẫu hàng hóa thường được gọi là ‘rổ hàng hóa’. Phương tiện đi lại, thực phẩm và chăm sóc y tế là một số mặt hàng chính được bao gồm trong giỏ này. Một số nền kinh tế trải qua tỷ lệ lạm phát cao bất thường trong một thời gian dài hơn đáng kể. Đây được gọi là ‘siêu lạm phát’, có thể được coi là nguyên nhân chính gây ra suy thoái kinh tế kéo dài.
Ví dụ. Năm 2014, tạp chí Forbes đã xác định 3 quốc gia Venezuela, Iran và Argentina là những quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao nhất và tỷ lệ này đã ở mức cao đáng kể trong một thời gian rất dài đối với các quốc gia này.
Chi phí lạm phát
Tỷ lệ lạm phát cao không có lợi cho bất kỳ nền kinh tế nào và các chi phí liên quan của nó là:
a) Chi phí da giày
Điều này đề cập đến thời gian dành cho việc tìm kiếm các lựa chọn thay thế để mua với giá tốt nhất vì giá cao.
b) Chi phí thực đơn
Do lạm phát cao, các công ty phải thay đổi giá thường xuyên để bắt kịp với những thay đổi của toàn nền kinh tế và đây có thể là một hoạt động tốn kém. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ việc các công ty như nhà hàng phải liên tục in menu mới để phản ánh sự thay đổi của giá cả.
Ngược lại với lạm phát được gọi là “Giảm phát”, và điều này xảy ra khi giá cả hàng hóa và dịch vụ giảm xuống. Đây cũng không phải là một tình huống thuận lợi vì nó cho thấy rằng không có nhu cầu ổn định trong nền kinh tế. Nhu cầu là nhân tố chính thúc đẩy hoạt động kinh tế, do đó nếu không có nhu cầu, nền kinh tế thường gặp khó khăn. Như vậy, nền kinh tế nào cũng phải duy trì lạm phát ở một mức nhất định, việc tăng hay giảm đáng kể chỉ có thể dẫn đến những hoàn cảnh tiêu cực.
Nguyên nhân của suy thoái lạm phát
a) Chiến tranh, thiên tai và các hình thức tàn phá tương tự khác
Nguồn lực của một nền kinh tế bị tiêu diệt và lãng phí do chiến tranh và thiên tai, và GDP có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong trường hợp bị phá hủy quy mô đáng kể.
b) Các chính sách của chính phủ
Các chính phủ thực hiện các chính sách khác nhau như kiểm soát tiền lương và giá cả; những điều này có thể được các nhà đầu tư và doanh nghiệp coi là bất lợi. Như vậy hoạt động kinh tế sẽ bị ảnh hưởng.
c) Thất nghiệp
Do lạm phát cao và chi phí sản xuất tăng, các tập đoàn phải sa thải nhân viên. Do đó, điều này có thể gây ra giảm một số lượng hàng hóa được sản xuất.
Suy thoái là một phần của chu kỳ kinh doanh; bất kỳ nền kinh tế nào cũng không thể tăng trưởng liên tục mà không gặp phải bất kỳ tác động tiêu cực nào. Do đó những cuộc suy thoái phần nào không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của suy thoái có thể được kiểm soát để giảm tác hại của nó bằng cách kiểm soát các nguyên nhân của suy thoái như lạm phát và thất nghiệp. Chính phủ có một vai trò quan trọng trong tình hình kinh tế như vậy vì suy thoái ảnh hưởng đến toàn bộ quốc gia.
C – SỰ KHÁC BIỆT GIỮA SUY THOÁI VÀ LẠM PHÁT
Lạm phát và suy thoái |
|
| Lạm phát là do giá cả tăng chung | Suy thoái có thể do nhiều yếu tố gây ra, nguyên nhân chính là lạm phát. |
| Khoảng thời gian | |
| Một nền kinh tế trải qua lạm phát trên cơ sở liên tục. | Suy thoái chỉ xảy ra trong những điều kiện kinh tế nhất định. |
| Đo lường | |
| Lạm phát được đo bằng CPI. | Suy thoái được đo lường bằng mức giảm GDP |
Tóm lại
Sự khác biệt giữa lạm phát và suy thoái là do kết quả kinh tế không thuận lợi; suy thoái là một cuộc suy thoái kinh tế lớn chủ yếu gây ra bởi lạm phát.
Danh sách tham khảo:
Patton, Mike. “Ba quốc gia có mức lạm phát cao nhất”.Forbes. Tạp chí Forbes, ngày 09 tháng 5 năm 2014. Web. Ngày 06 tháng 2 năm 2017.
“Kinh tế trực tuyến.”Đo lường lạm phát. N.p., n.d. Web. Ngày 06 tháng 2 năm 2017.
“Chi phí của lạm phát – Sách giáo khoa mở vô biên.”
Vô biên. N.p., n.d. Web. Ngày 06 tháng 2 năm 2017.
Nhân viên, Investopedia. “Suy thoái.”Investopedia. N.p., ngày 25 tháng 11 năm 2003. Web. Ngày 06 tháng 2 năm 2017.
Ross, Sean. “Có phải suy thoái kinh tế không thể tránh khỏi?”Investopedia. N.p., ngày 20 tháng 3 năm 2015. Web. Ngày 06 tháng 2 năm 2017.




