Khủng hoảng kinh tế tài chính gây nên những tổn thất to lớn trên thế giới hiện nay đang thu hút sự quan tâm không chỉ của chính phủ các nước mà còn của giới nghiên cứu trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã được mổ xẻ, phân tích từ nhiều góc độ khác nhau.
Trong đó, phân tích về nguyên nhân và hậu quả của cuộc khủng hoảng chẳng những giúp chính phủ các nước có cơ sở khoa học đúng đắn cho những giải pháp ngăn chặn, khắc phục khủng hoảng, ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai, mà còn dự báo đúng xu hướng vận động, phát triển của kinh tế thế giới để có định hướng đúng cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay được đánh giá là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, nặng nề nhất trên thế giới trong hơn 60 năm qua từ sau Đại khủng hoảng kinh tế Thế giới 1929-1933. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng được xác định là bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ.
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ lại được xác định có nguyên nhân từ việc các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay mua nhà “dưới chuẩn” với một quy mô lớn.
Việc một số lượng lớn người dân đổ xô vào vay tiền ngân hàng (trả lãi và vốn trong một thời gian dài) là do tình trạng lãi suất và dễ vay mượn ở Mỹ mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, cứu nền kinh tế Mỹ khỏi suy thoái sau cuộc khủng hoảng năm 2000-2001 (chỉ từ tháng 5/2001 đến tháng 12/2002, FED đã 11 lần giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm).
Còn các NHTM có thể cho người dân vay mua nhà “dưới chuẩn” đầy rủi ro với một quy mô lớn là do được các công ty tài chính và ngân hàng đầu tư, trong đó đặc biệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấp vốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, các ngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear Stearms, Merrill Lynch…
Các công ty tài chính, ngân hàng đầu tư này lại phát hành trái phiếu trên cơ sở các chứng từ cho vay thế chấp đó để bán cho các ngân hàng Mỹ khác và ngân hàng nhiều nước trên thế giới làm tài sản tích trữ do uy tín của các ngân hàng phát hành.
Việc “chứng khoán hoá” các khoản vay thế chấp đã vượt khỏi sự kiểm soát của nhà nước. Chuỗi hoạt động kinh doanh mang tính chất đầu cơ đã làm thị trường nhà đất nóng lên, giá nhà đất bị đẩy lên cao, trở thành “bong bóng”. “Bong bóng” nổ là không thể tránh khỏi.
Những diễn biến trên là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng tài chính, nhưng sâu xa hơn, cuộc khủng hoảng tài chính có nguyên nhân từ cơ cấu và cơ chế vận hành nền kinh tế Mỹ.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới 1929-1933, các học thuyết kinh tế đề cao vai trò tự điều tiết của thị trường, điều tiết của “bàn tay vô hình” bị phê phán, học thuyết kinh tế của Keynes đề cao vai trò điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã ra đời.
Cơ chế phối hợp giữa điều tiết của thị trường và điều tiết của nhà nước đã giúp nền kinh tế thị trường thế giới phát triển tương đối ổn định trong suốt hơn 60 năm qua (khắc phục, giảm bớt được quy mô, tính tàn phá của các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ). Nhưng vào những năm 80 của thế kỷ trước, các trường phái kinh tế Tân tự do (Tân cổ điển) lại được đề cao.
Trong bối cảnh thực hiện các chính sách tự do hoá kinh tế, Chính phủ Mỹ còn thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ trong một thời gian dài. Để phục hồi nền kinh tế Mỹ sau cuộc suy thoái kinh tế năm 2001, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã liên tiếp giảm lãi suất liên ngân hàng (từ 6,5% xuống còn 1,75%), theo đó, lãi suất cho vay của tín dụng thứ cấp cũng giảm xuống thấp.
Chính sách nới lỏng tiền tệ (chính sách đồng đô la rẻ) đã kích thích người dân vay tiền mua nhà và các tổ chức tín dụng thì sẵn sàng cho vay, đầu tư mạo hiểm. Tóm lại, sự buông lỏng quản lý nhà nước và những sai lầm trong chính sách kinh tế của nhà nước là nguyên nhân sâu xa hơn của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ vừa qua.
Kinh tế thị trường Mỹ dựa chủ yếu trên sở hữu tư nhân, lợi nhuận là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, nhưng cũng là nguyên nhân thúc đẩy các doanh nghiệp đầu cơ, thậm chí sẵn sàng vi phạm pháp luật, vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội, phá vỡ những cân đối duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế, dẫn tới khủng hoảng.
Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ sau đó nhanh chóng lan rộng, làm suy giảm kinh tế toàn cầu, có nguyên nhân từ vai trò của kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới.
Từ sau Đại chiến Thế giới lần thứ II đến nay, Mỹ là cường quốc kinh tế, cường quốc khoa học công nghệ đứng đầu thế giới. Giá trị tổng sản phẩm (GNP) của nước Mỹ chiếm gần một phần tư giá trị tổng sản phẩm của thế giới, nên suy giảm kinh tế Mỹ đã ảnh hưởng lớn đến quan hệ tài chính, thương mại và đầu tư quốc tế, do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của nhiều nước.
Cũng do sức mạnh to lớn của nền kinh tế Mỹ mà đồng đô la Mỹ được sử dụng làm đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế. Chính phủ, các ngân hàng, công ty của các nước trên thế giới đều sẵn sàng mua trái phiếu của Chính phủ Mỹ, của các công ty và ngân hàng Mỹ làm tài sản dự trữ của mình. Điều này tạo cho Chính phủ, các công ty và ngân hàng Mỹ những lợi thế to lớn.
Chính phủ Mỹ có thể phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế để huy động tiền bù đắp cho sự thiếu hụt ngân sách của mình. Ngân hàng và các công ty Mỹ có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn, mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, kể cả các hoạt động mạng tính chất đầu cơ.
Nhưng khi đồng đô la Mỹ mất giá, thì giá cả, thương mại, tài chính quốc tế, giá trị tài sản dự trữ bằng đồng đô la Mỹ và trái phiếu Mỹ của Chính phủ, các ngân hàng, công ty các nước đều bị ảnh hưởng.
Sự sụp đổ của ngân hàng Mỹ kéo theo sự phá sản của hàng loạt ngân hàng các nước trên thế giới; khủng hoảng của kinh tế Mỹ gây ra khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới.
Trong hệ thống tài chính thế giới với vai trò chi phối của Mỹ hiện nay, nước Mỹ đã buộc cả thế giới phải chia sẻ, cũng trả giá cho những sai lầm, bất ổn của kinh tế Mỹ.
Bởi vậy, để ngăn chặn và khắc phục khủng hoảng kinh tế thế giới, trong khi nước Mỹ kêu gọi các nước đổ tiền ra để cứu hệ thống ngân hàng, thì nhiều nước, nhất là những nước lớn và kinh tế phát triển như Đức, Pháp, Trung Quốc, Nga,… lại kêu gọi trước hết phải cải tổ lại hệ thống tài chính toàn cầu.
Hậu quả của cuộc khủng hoảng
Hậu quả lớn và nặng nề nhất là phá huỷ lực lượng sản xuất, đẩy lùi sự phát triển của kinh tế thế giới. Trước hết là đối với nước Mỹ. ở Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính biến thành cuộc khủng hoảng kinh tế, sản xuất suy thoái, thất nghiệp tăng lên, do đó được xem là cuộc khủng hoảng “3 trong 1”.
Cuộc khủng hoảng làm phá sản hàng loạt ngân hàng và công ty tài chính, kể cả những ngân hàng, công ty tài chính hàng đầu nước Mỹ. Bear Stearn – một trong những tập đoàn môi giới chứng khoán và ngân hàng đầu tư hàng đầu phố Wall, đã có bề dày hoạt động 85 năm trên thị trường tài chính Mỹ, bị thua lỗ nặng nề khi thị trường nhà đất sụt giá, ngày 16/3/2008 đã tuyên bố phá sản, bị Morgan Chase mua lại với giá 2 USD một cổ phiếu.
Lehman Brather, ngân hàng đầu tư đứng hàng thứ tư ở phố Wall có 158 năm hoạt động, ngày 15/9/2008 đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản do thua lỗ, tổng số nợ lên đến 768 tỷ USD.
Thua lỗ phá sản còn diễn ra với hàng loạt ngân hàng, công ty tài chính lớn khác như: Indy Mac Bancorp Inc, Freddie Mac và Fannie Mae, Merrill Lynch & Co, City Group, National Bank of Commerce, Bank of Clark Country…
Thị trường chứng khoán Mỹ chao đảo, nhiều cổ phiếu rớt giá thế thảm. Trước khi phá sản, cổ phiếu của ngân hàng Lehman Brother giảm 94%, cổ phiếu của Freddie và Fannie giảm 90%;
Từ đầu năm 2008 đến tháng 3/2009, cổ phiếu của AIG giảm 79%; cổ phiếu của City Group, Bank of America, Goldman Sachs giảm hơn 60%,…Cả bốn chỉ số quan trọng của thị trường chứng khoán Mỹ là các chỉ số DowJone, S&P 500, Nasdaq và FTSE đều sụt giảm nghiêm trọng, một sự sụt giảm mạnh nhất từ những năm 1930 trở lại đây.
Sản xuất và tiêu dùng ở Mỹ cũng rơi vào tình trạng hết sức khó khăn. Ngành sản xuất ô tô, một trong những ngành sản xuất quan trọng nhất của kinh tế Mỹ, doanh thu giảm nghiêm trọng.
Ba hãng sản xuất ô tô hàng đầu nước Mỹ là General Motor, Ford, Chrysler đều thua lỗ nặng nề. Tháng 1/2008, Nortel Networks Corp, một trong những tập đoàn thiết bị viễn thông lớn nhất của Mỹ, tháng 2/2008, Lyondell Chemical, một trong những nhà sản xuất hoá chất lớn nhất nước Mỹ, đã phải nộp đơn xin bảo lãnh phá sản…
Kinh tế suy thoái, tiêu dùng suy giảm nghiêm trọng làm hàng loạt các công ty bán lẻ lớn của Mỹ như Circuit City Store Inc, Sharper Image Corp, Steve & Barry’s LLC, Macy Inc, Ann Taylor Stores Inc,… buộc phải phá sản hoặc xin bảo hộ phá sản. Sản xuất đình đốn, sa thải lao động làm thất nghiệp của Mỹ tăng lên từng tháng và đạt mức cao nhất trong 25 năm qua, từ 2,59 triệu người năm 2007 lên 3,84 triệu năm 2008 và 4,61 triệu người vào tháng 2/2009.
Từ Mỹ, cuộc khủng hoảng làm chao đảo thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, làm phá sản nhiều ngân hàng, công ty tài chính, nhiều tập đoàn kinh tế lớn ở nhiều nước trên thế giới, gây suy giảm nghiêm trọng các quan hệ thương mại, tài chính, đầu tư quốc tế và kinh tế thế giới nói chung.
Các Ngân hàng Royal Bank (Scotland), Kaupthing, Landsbanki, Glitnir (Iceland), Ngân hàng Northern Bank, công ty cho vay thế chấp Brandford & Binglay (Anh), các Ngân hàng IKB, DZ Bank, Deutsche Bank, Sachsen LB (Đức), Tập đoàn Bảo hiểm Yamato Life Insurance Co (Nhật Bản) ….và nhiều ngân hàng khác là những nạn nhân của cuộc khủng tài chính Mỹ, buộc phải xin trợ giúp của chính phủ hoặc bị chính phủ quốc hữu hoá.
Nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho thấy, trong năm 2008, cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu đã làm tổn thất 50 nghìn tỷ USD trong tổng tài sản tài chính của thế giới, trong đó, các nước đang phát triển châu Á là chịu thiệt hại nặng nề hơn cả với tổng giá trị bị thiệt hại là 9,6 nghìn tỷ USD, cao hơn tổng giá trị GDP trong một năm của những nước này.
Mặc dù chỉ có hơn 20 nước chính thức tuyên bố rơi vào suy thoái kinh tế, nhưng trên thực tế hầu hết các nước trên thế giới đều bị ảnh hưởng, gặp khó khăn và suy giảm tốc độ tăng trưởng ở các mức độ khác nhau.
Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2009, kinh tế thế giới tăng trưởng chỉ còn 0,9%, tốc độ tăng trưởng của các nước OECD là -0,3% (trong đó, của Mỹ là -0,9%, khu vực đồng EURO là – 0,6%), tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển là chỉ là 4,5%…
Các dự báo về kinh tế thế giới của Quỹ Tiền tệ quốc tế, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Citi Group hay Reuters cũng cùng xu hướng suy giảm như vậy.
Một hệ quả khác của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay là sự phá sản của chính sách kinh tế tự do hoá mà nước Mỹ thực hiện nhiều năm qua và muốn áp đặt cho cả thế giới. Sau khủng hoảng, tại nước Mỹ và trên thế giới, chính sách kinh tế của các chính phủ sẽ cân bằng hơn giữa điều tiết của thị trường và điều tiết của nhà nước; sự can thiệp, điều tiết kinh tế của nhà nước đối với nền kinh tế sẽ nhiều hơn; sự giám sát của nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là đối với hệ thống tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán sẽ chặt chẽ hơn hiện nay.
Cuộc khủng hoảng cũng làm thay đổi tương quan giữa các nước, các nền kinh tế lớn trên thế giới với sự suy giảm vai trò của một số nước (như Mỹ, Nhật,…) và sự nổi lên của một số nước khác (như Trung Quốc, ấn Độ, Nga, Braxin,…).
Do đó, xuất hiện yêu cầu đòi hỏi phải thay đổi hệ thống kinh tế, tài chính thế giới với vai trò chi phối, thống trị của Mỹ nhiều năm qua, thay đổi cơ cấu và quy chế hoạt động của IMF, WB, WTO; tìm kiếm những đồng tiền khác thay thế vai trò độc quyền của đồng Đô la Mỹ làm đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế.
Quá trình thay đổi làm hình thành hệ thống kinh tế, tài chính thế giới theo hướng dân chủ hơn, hợp lý hơn đang từng bước được thực hiện. Tất nhiên đây còn là một quá trình lâu dài.
Cuộc khủng hoảng cũng tạo sức ép và cơ hội cho các nước đánh giá lại những mặt mạnh, mặt yếu trong nền kinh tế của mình, xem xét việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế và cơ cấu kinh tế, đổi mới thiết bị công nghệ, phát triển những nguồn năng lượng mới, công nghệ sản xuất mới tiêu tốn ít năng lượng, nguyên liệu, ít gây ô nhiễm môi trường, sản xuất những sản phẩm mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao, có sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao… nâng cao chất lượng, hiệu quả và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Với xu hướng này, hy vọng rằng sau khủng hoảng, kinh tế thế giới sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới cao hơn, hiệu quả và bền vững hơn./.
Tài liệu tham khảo:
1. Báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á: Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và các nền kinh tế mới nổi: ảnh hưởng tiêu cực và tổn thất. Tháng 3/2009.
2. Michel Beaud và Gilles Dostaler (2008), Tư tưởng kinh tế từ Keynes, NXB Trí Thức, Hà Nội.
3. Austin Murphy (2008), An Analyis of The Financial Crisis of 2008: Causes and Solution, Small Business Administration – SBS Publication, USD.
4.http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/09/802693.




Khủng hoảng kinh tế là trạng nền kinh tế quốc gia xấu đi đáng kể. Khủng hoảng kinh tế để lại hậu quả vô cùng nặng nề không chỉ với nền kinh tế quốc gia mà còn với công việc nghề nghiệp của người dân quốc gia đó.
1. Định nghĩa
Khủng hoảng kinh tế được hiểu đơn giản nhất là tình huống mà nền kinh tế quốc gia xấu đi đáng kể. Đó là sự suy giảm đáng kể các hoạt động kinh tế diễn ra trong một thời gian dài kiến cho nền kinh tế rơi vào tình trạng ngày càng trầm trọng. Khủng hoảng kinh tế là một giai đoạn suy thoái của nền kinh tế trong chu kỳ phát triển của kinh doanh. Tuy nhiên, nếu như con người biết quản lý phát triển kinh tế, quản lý suy thoái đúng cách chúng ta có thể ngăn chặn khủng hoảng kinh tế hoặc ít nhiều có thể hạn chế được những tác động xấu nhất có thể xảy ra.Vậy hiểu sâu ra nhất thì bản chất của khủng hoảng kinh tế là gì? Bản chất của khủng hoảng kinh tế là mất định hướng cũng như sự ổn định trong kinh tế, là một giai đoạn suy thoái của nền kinh tế. Khủng hoảng kinh tế thường đã bắt đầu mầm mống nhen nhóm nổ ra từ rất lâu, chính vì vậy khi khủng hoảng kinh tế nổ ra hậu quả nó để lại cho nền kinh tế là rất nặng nề. Đồng thời nó không dễ dàng gì khắc phục trong thời gian ngắn.Khủng hoảng kinh tế có thể diễn ra trên phạm vi một quốc gia, có thể nổ ra trong phạm vi của khu vực nhưng cũng có thể nổ ra trên toàn thế giới. Đương nhiên, kéo theo đó gần như không một quốc gia nào có thể tránh khỏi cơn lốc khủng hoảng kinh tế này. Một sự thật rất thú vị, đó là quốc gia càng phát triển thì khủng hoảng kinh tế càng có thể xảy ra, kéo theo đó là hậu quả mà nó để lại cũng sẽ nặng nề hơn rất nhiều khi khủng hoảng kinh tế diễn ra ở những nước nghèo, nước kém phát triển hơn.Khủng hoảng kinh tế bao gồm ba hình thức khủng hoảng là khủng hoảng thừa, khủng hoảng thiếu và khủng hoảng nợ. Cụ thể:Khủng hoảng thừa là khủng mà hoảng mà ở đó số lượng hàng hóa sản xuất ra nhiều trong khi nhu cầu tiêu dùng có hạn, nghĩa là cung nhiều hơn cầu. Khủng hoảng thừa diễn ra nhiều vào sau cuộc cách mạng công nghiệp Anh, khi mà máy móc dần thay thế cho sức lao động, điều này đã khiến cho công nhân thất nghiệp hàng loạt, không có thu nhập. Trong khi đó hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều và họ không có tiền để mua những sản phẩm tiêu dùng đó.Trái ngược với khủng hoảng thừa là khủng hoảng thiếu, đây là cuộc khủng hoảng mà nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân khiến giá cả sản phẩm leo thang. Khủng hoảng thiếu bắt nguồn từ sự gia tăng dân số nhanh chóng, do thiên tai, cạn kiệt tài nguyên, sự hạn chế năng lực sản xuất, … Khủng hoảng thiếu đã đẩy giá sản phẩm leo thang, tăng cao ở mức khó chấp nhận.
Cuối cùng ta phải kể tới hình thức thứ ba – khủng hoảng nợ. Đây là cuộc khủng hoảng mà chính phủ quốc gia không có khả năng chi trả những món nợ quốc gia dẫn đến khủng hoảng nợ. Để giải quyết khủng hoảng nợ quốc gia thường tăng thuế với các ngành kinh tế trong nước để giải quyết vấn đề nợ. Khủng hoảng nợ không nguy hiểm nhiều như khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu, vấn đề cốt lõi là giữa chủ nợ và con nợ.
2. Nguyên nhân
Trong hầu hết các trường hợp, một cuộc khủng hoảng tài chính là nguyên nhân của một cuộc khủng hoảng kinh tế. Đó là khi GDP thường giảm, thanh khoản cạn kiệt, giá bất động sản và thị trường chứng khoán giảm mạnh, suy thoái kinh tế ngày càng tồi tệ hơn.Một cuộc khủng hoảng kinh tế là một tình huống trong đó nền kinh tế của một quốc gia hoặc các quốc gia trải qua một cuộc suy thoái bất ngờ do một cuộc khủng hoảng tài chính gây ra. Còn khủng hoảng tài chính là tình huống khi nhu cầu tiền nhanh chóng tăng lên so với cung tiền. Trước đây, khủng hoảng tài chính tương đương với một cuộc khủng hoảng ngân hàng, còn ngày nay nó tồn tại ở dạng khủng hoảng tiền tệ.Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhiều cuộc khủng hoảng tài chính đã diễn ra, nó bắt nguồn từ chính những cuộc khủng hoảng ngân hàng và nhiều cuộc suy thoái trùng khác. Các tình huống khác thường là dấu hiệu của cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu diễn ra như sụp đổ thị trường chứng khoán và vỡ bong bóng tài chính, khủng hoảng tiền tệ và nợ quốc gia, … Khủng hoảng tài chính trực tiếp dẫn đến mất tài sản kinh tế, nó có thể ảnh hưởng đến vị thế kinh tế của một quốc gia hoặc không tùy thuộc vào hậu quả khủng hoảng kinh tế mà quốc gia đó phải gánh chịu .Nhiều nhà kinh tế đã đưa ra các lý thuyết về cách một cuộc khủng hoảng tài chính phát triển và làm thế nào nó có thể được ngăn chặn. Tuy nhiên, gần như không có sự đồng thuận giữa các giải pháp và khủng hoảng tài chính vẫn là một hiện tượng diễn ra theo thời gian. Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán là một ví dụ về một cuộc khủng hoảng tài chính sau đó nó từng bước diễn biến theo chiều hướng xấu trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế.
3. Phân loại khủng hoảng kinh tế
Hình thức của khủng hoảng kinh tế bao gồm 3 dạng khủng hoảng thừa, khủng hoảng thiếu và khủng hoảng nợ. Còn phân loại chi tiết hơn về khủng hoảng kinh tế người ta phân thành các dạng sau:Khủng hoảng ngân hàng: khủng hoảng ngân hàng diễn ra khi ngân hàng bị rút tiền đột ngột bởi người gửi. Các ngân hàng hiện nay cho vay tiền và nguồn tiền mà họ cho vày hầu hết là tiền gửi từ những khách hàng khác, chính vì vậy khi người gửi rút tiền đột ngột ngân hàng rất khó để đòi lại các khoản nợ của mình để trả cho khách hàng gửi tiền. Do đó, cuộc chạy đua thanh toán sẽ diễn ra khiến khách hàng mất niềm tin vào ngân hàng, mất tiền gửi và không được đảm bảo số tiền mình đã gửi. Ví dụ cụ thể cho cuộc khủng hoảng ngân hàng nổi bật nhất đó là cuộc khủng hoảng Ngân hàng Hoa Kỳ vào năm 1931 và hoạt động trên Northern Rock vào năm 2007. Khủng hoảng ngân hàng thường xảy ra sau thời gian cho vay rủi ro và dẫn đến vỡ nợ.Khủng hoảng tiền tệ: hay còn gọi là khủng hoảng mất giá, là một phần của cuộc khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng tiền tệ diễn ra khi giá tiền bị tụt dốc nhanh chóng, người ta phải bỏ nhiều tiền hơn rất để sở hữu được sản phẩm mình mong muốn.“Bong bóng” và đầu cơ tích trữ: Khi gián sản phẩm leo thang quá cao và kéo dài trong một thời gian do một số người đầu cơ tích trữ với hy vọng sẽ bán lợn với giá cao ở một thời gian sau gây lũng đoạn thị trường. Nếu đầu cơ tích trữ bị đẩy lên cao như “bong bóng” rất dễ dẫn đến sụp đổ giá trị tài sản. Một minh chứng nổi bật nhất của hình thức khủng hoảng này đó là sự kiện khủng hoảng Hoa tulip Hà Lan thế kỷ 17 hay vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán phố Wall năm 1929.Khủng hoảng tài chính – cú hích cuối cùng diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế diện rộng. Khủng hoảng tài chính liên quan đến các vấn đề trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đặc biệt là khi ngân hàng lớn của một quốc gia sụp đổ.Những vấn đề này tiếp tục diễn ra theo chiều hướng xấu nó sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô cùng những thứ bao trùm toàn bộ nền kinh tế, như tăng trưởng GDP, thất nghiệp và lạm phátMột cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là một cuộc khủng hoảng tài chính đồng thời ảnh hưởng đến nhiều quốc gia hoặc ảnh hưởng trên cả thế giới . Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các tổ chức tài chính mất niềm tin lẫn nhau, họ ngừng cho vay và ngừng mua các tài sản có giá trị tài chính. Đây được xem là cú hích cuối cùng chính thức diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế trên diện rộng.
Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính không phải là khủng hoảng kinh tế và nó không phải là khủng hoảng kinh tế. Vì lẽ, khủng hoảng tài chính chỉ giới hạn trong một lĩnh vực, còn khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Và hậu quả để lại là rất nặng nề như thất nghiệp tăng, GDP ngừng tăng hoặc thu hẹp, cuộc sống nhân dân khổ cực, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, … và rất nhiều hậu quả nặng nề khác.
4. Những cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng nghiệp trọng đến nền kinh tế thế giới
Trong lịch sử phát triển kinh tế của mình, thế giới đã trải qua rất nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế. Nếu như nhìn vào đồ thị phát triển kinh tế thế giới bạn sẽ thấy đồ thị ấy hình sin, có những thời kì là đỉnh cao và cũng có những thời kì tụt dốc xuống vực đáy. Những vực đáy ấy được đánh dấu bằng những cuộc khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, những cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra cũng đánh dấu cho những khởi đầu mới của lịch sử hay của kinh tế thế giới. Chúng ta có thể kể tới những cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế thế giới như sau:- Khủng hoảng hoa Tulip tại Hà Lan năm 1637 đã phá hủy toàn bộ nền kinh tế Hà Lan, biến Hà Lan từ cường quốc hàng đầu thế giới xuống hàng thứ yếu, mở ra cơ hội vươn lên của nước Anh sau này.- Khủng hoảng ngân hàng tín dụng ở nước Anh năm 1772, khiến Anh thiệt hại kinh tế trầm trọng, một trong những nguyên nhân khiến quốc gia này mất rất nhiều thuộc địa thời bấy giờ trong đó có 13 Bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ sau này). Cuộc khủng hoảng này cũng tạo cơ hội vươn lên của hai cường quốc kinh tế mới là Pháp và Phổ (Đức sau này)- Cuộc đại khủng hoảng năm 1929 – 1933 bắt đầu từ sự sụp đổ tài chính phố Wall – Mỹ. Khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 được xem là cuộc khủng hoảng nặng nề nhất, để lại hậu quả ác liệt nhất. Nó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống các nước TBCN thời bấy giờ là Anh, Pháp, Mỹ. Đức, … Khiến cho Hoa Kỳ dù vẫn là cường quốc số 1 nhưng nền kinh tế đã giảm thiểu rất nhiều. Đồng thời cũng là mầm mống của chủ nghĩa Phát xít và cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2.- Khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 giữa Mỹ và thành viên các quốc gia OPEC. Cuộc khủng hoảng này để lại thiệt hại vô cùng nặng nề chỉ sau đại khủng hoảng năm 1929 – 1933, nó ảnh hưởng đến kinh tế của rất nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là Mỹ và đồng minh của Mỹ. Cùng với đó, khủng hoảng dầu mỏ 1973 đã góp phần làm cho CNXH ở Liên Xô sụp đổ.
– Khủng hoảng kinh tế bắt đầu tại Thái Lan năm 1997 sau đó lan rộng ra các quốc gia Đông Á đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam cũng là nạn nhân của cuộc khủng hoảng này. Cuộc khủng hoảng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và kinh tế của các quốc gia khu vực Đông Nam Á và Đông Á.- Khủng hoảng tài chính 2007 – 2008 trong lĩnh vực bất động sản bắt đầu tại Mỹ, gây suy thoái kinh tế nhiều nước và ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam. Vì lẽ thời gian này, Việt Nam vừa gia nhập WTO năm 2007 tuy nhiên bằng những biện pháp tích cực Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế.