Nền kinh tế đang hồi phục tạo cơ sở giúp hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên sàn cải thiện trong các quý tới.
Bức tranh vĩ mô tốt hơn nhưng còn bất định
Các dữ liệu được Tổng cục Thống kê công bố mới đây cho thấy, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2024 ước tính tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Còn ở phía cầu, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 4/2024 ước đạt 522.100 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.062.300 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2023 tăng 13,3%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,3% (cùng kỳ năm 2023 tăng 8,7%). Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2024 tăng 0,07% so với tháng trước, do giá xăng dầu tăng theo giá nhiên liệu thế giới và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng đầu năm 2024, CPI tăng 3,93% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 2,81%, cho tín hiệu lãi suất khó giảm thêm.
Xuất khẩu tháng 4/2024 giảm 8,1% so với tháng trước, tuy nhiên, do tăng khá mạnh trong quý I nên tính chung 4 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu vẫn tăng 15% so với cùng kỳ. Nhập khẩu hàng hóa trong tháng 4/2024 ước đạt 61,2 tỷ USD, giảm 5,2% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng, xuất siêu cả nước đạt 8,4 tỷ USD (cùng kỳ xuất siêu 7,66 tỷ USD). Tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam tính (từ đầu năm) đến ngày 20/4/2024 đạt gần 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện trong 4 tháng đầu năm ước đạt 6,28 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất so với cùng kỳ 5 năm qua.
Những con số trên cho ta dự cảm ra sao về sức khỏe nền kinh tế Việt Nam?
Thứ nhất, tín hiệu phục hồi nền kinh tế tiếp tục ổn định, dựa trên chỉ số IIP phục hồi nhưng không quá mạnh. Lạm phát bắt đầu có sức ép, nếu nền kinh tế tiếp tục hồi phục sẽ có nguy cơ lạm phát tăng, tạo áp lực lên chính sách tiền tệ (lãi suất huy động không thể thấp hơn để đảm bảo nguyên tắc thực dương).
Thứ hai, xuất khẩu và FDI góp phần bổ sung vào dự trữ ngoại hối, tiếp tục tạo dư địa để Ngân hàng Nhà nước linh hoạt ổn định tỷ giá, nhưng cần thời gian đánh giá trên tin tức từ thị trường nước ngoài có tác động lên hoạt động đầu cơ trong nước.
Tuy nhiên NĐT cần lưu ý đến các yếu tố tiền tệ như việc NHNN có thể hút ròng để duy trì mức nền lãi suất đủ cao trên thị trường liên ngân hàng để ứng phó với áp lực tỷ giá, ngoài ra còn có các thông tin như:
- Thủ tướng yêu cầu NHNN tiếp tục bơm vốn ra nền kinh tế
- Xây dựng Luật khu công nghiệp: Đón dòng đầu tư chất lượng cao
- Ngân hàng tăng lãi suất huy động kể từ đầu tháng 4
- Giá vàng lại phá đỉnh, lãi suất tiết kiệm bắt đầu tăng, dòng tiền sẽ đổ vào đâu?
Trong 4 tháng đầu năm, nhiều chỉ số vĩ như xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp đang có sự phục hồi tiếp tục tạo cơ sở giúp hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp trên sàn cải thiện tích cực hơn trong các quý tới.
Trong tháng 5, một số yếu tố vĩ mô mà nhà đầu tư cần quan tâm bao gồm:
- Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất giảm 2% thuế VAT
- Thu hút FDI vào Việt Nam đang tăng trưởng tích cực
- Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trở lại mức cao như thời kỳ trước dịch COVID-19
- Hơn 41% trái phiếu bất động sản sắp đáo hạn,…
Đặc biệt, nhà đầu tư cũng cần quan tâm đến một số yếu tố rủi ro trên thị trường tiền tệ.
Trong đó đáng chú ý là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có khả năng sẽ hút ròng trở lại nhằm duy trì mức nền lãi suất đủ cao trên thị trường liên ngân hàng để ứng phó với áp lực tỷ giá; Yếu tố thúc đẩy áp lực mất giá tiền đồng có thể quay trở lại nếu Fed trì hoãn thêm thời điểm cắt giảm lãi suất hoặc động thái giảm lãi suất của các NHTW lớn (trừ Fed) tạo cơ hội để đồng USD phục hồi qua ngưỡng cản 105-106.
Các điểm sáng của nền kinh tế trong tháng 5
Mỹ cân nhắc công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam.
Ông Ted Osius – Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ – ASEAN, khẳng định: “Việt Nam đã có nền kinh tế thị trường. Họ đã đáp ứng các tiêu chí quan trọng như khả năng chuyển đổi tiền tệ và sẵn sàng để được công nhận quy chế chính thức”.
Điều này hàm ý giúp cho việc giảm thuế chống bán phá giá ở các mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam có lợi ở các lĩnh vực như: Dệt may, Thủy sản, Thép, Gỗ, Đá,…
Ngoài ra, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có tình hình sản xuất tăng mạnh trong 4 tháng đầu năm như thép, phân bón, vải dệt.… được kỳ vọng giúp các doanh nghiệp trong ngành có kết quả kinh doanh tăng trưởng cao trong nửa đầu năm 2024, đặc biệt so với mức nền thấp cùng kỳ 2023.
Đặc biệt, môi trường lãi suất duy trì ở mức thấp so với bình quân năm 2023 sẽ giúp giảm chi phí tài chính của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tín dụng đã bắt đầu tăng trở lại từ tháng 3 và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng 15% trong năm 2024.
Với dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam đang tăng trưởng tích cực, đặc biệt là vốn đăng ký mới cùng số dự án mới tăng mạnh trước xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Nhiều tập đoàn công nghệ lớn đang muốn hợp tác đầu tư trong các lĩnh vực bán dẫn, chip, năng lượng tái tạo. Điều này kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp Công nghệ – Viễn thông và Bất động sản Khu công nghiệp hưởng lợi. Đồng thời nhóm Khu công nghiệp cũng được hưởng lợi gián tiếp từ các dự án đầu tư công đang triển khai liên quan đường xá, hạ tầng.
Tình hình thương mại quốc tế cũng đang phục hồi tích cực so với cùng kỳ năm 2023 kỳ vọng sẽ giúp các nhóm xuất khẩu phục hồi kết quả kinh doanh mạnh mẽ như hóa chất, xơ sợi, gỗ, dệt may, thủy sản. Bên cạnh đó, các ngành liên quan như logistics, cảng biển cũng được kỳ vọng hưởng lợi từ xu hướng này.
Lượng khách du lịch quốc tế duy trì đà tăng cao nhất từ tháng 1/2020 và đã vượt thời điểm trước đại dịch nhờ các giải pháp kích cầu du lịch của Chính phủ, có thể tạo sự khởi sắc đối với kết quả kinh doanh cũng như diễn biến giá cổ phiếu của nhóm doanh nghiệp hàng không, dịch vụ.

Doanh số bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng thấp. (Nguồn: VDSC).
Bên cạnh đó, doanh số bán lẻ hàng hoá và dịch vụ vẫn tiếp tục tăng thấp là lý do khiến Bộ Tài chính đã tiếp tục đề xuất giảm 2% thuế suất Thuế Giá trị gia tăng (VAT) cho nửa cuối năm 2024 để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng 8,5% so với cùng kỳ, nhích nhẹ so với mức tăng 8,2% trong quý I/2024. Tuy nhiên, mức tăng thực sau khi loại trừ yếu tố giá vẫn tương đối yếu, chỉ đạt 5,3% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 8,3% trong 4 tháng đầu năm 2023.
Việc doanh số bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng vẫn tăng khá thấp là nguyên nhân Chính phủ tiếp tục đưa ra các chính sách tài khoá, trong đó nhiều khả năng đề xuất giảm 2% VAT sẽ được thông qua.
Khi đề xuất này được thông qua sẽ góp phần hỗ trợ chi phí của các doanh nghiệp trong nửa cuối năm và kích thích tiêu dùng, từ đó giúp hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết thuận lợi hơn.
NHNN đối phó với áp lực tỷ giá
Mặc dù vậy, nhà đầu tư cũng cần lưu ý đến các rủi ro liên quan đến thị trường tiền tệ như tỷ giá hay việc Fed trì hoãn thời gian hạ lãi suất.
Kể từ sau khi NHNN bắt đầu bán ngoại tệ, đà tăng của tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng đã dừng lại. Trong suốt 2 tuần cuối tháng 4 và đầu tháng 5, tỷ giá niêm yết tại VCB gần như không đổi ở mức 25.127-25.457 đồng/USD.
Cùng với đó, tỷ giá trên thị trường tự do cũng neo ở mức cao khoảng 25.700 – 25.800 đồng đối với chiều bán ra. Quy mô bán ngoại tệ của NHNN từ 19/04 đến nay không quá lớn, ước chỉ khoảng 500 – 700 triệu USD (tương đương 13 – 18 nghìn tỷ đồng).

Diễn biến tỷ giá USD/VND từ 2019 đến nay. (Nguồn: VDSC tổng hợp).
Có ba yếu tố giúp tỷ giá ngừng tăng thêm:
Thứ nhất, đồng USD đang gặp ngưỡng cản ở vùng 105 – 106.
Thứ hai, hoạt động điều tiết của NHNN trên thị trường mở khiến mặt bằng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng neo ở mức cao, bình quân khoảng 4,2%/năm đối với lãi suất cho vay qua đêm đối với tiền đồng trong hai tuần cuối tháng 4.
Thứ ba, mặt bằng lãi suất trên thị trường mở nhích lên cùng với lãi suất huy động tăng trở lại cũng tác động đến kỳ vọng về tỷ giá. Kịch bản kiểm soát đà mất giá tiền đồng ở mức 5% có thể giữ được trong ngắn hạn. Tuy nhiên, biến số về triển vọng lãi suất của Fed và khả năng đồng USD phục hồi vẫn đang khiến cho rủi ro mất giá tiền đồng vẫn hiện hữu.
Sau hành động can thiệp để kiểm soát đà mất giá của tiền đồng là lãi suất huy động đã tăng trở lại từ vùng đáy. Mặt bằng lãi suất huy động có thể phục hồi về thời điểm đầu năm nay trong các tháng tới, tương đương với mức tăng bình quân 50-100 điểm cơ bản từ vùng đáy, tuỳ kỳ hạn và nhóm ngân hàng.

Lãi suất huy động có dấu hiệu tăng trở lại. (Nguồn: VDSC).
“Diễn biến tiếp theo của mặt bằng lãi suất sẽ tuỳ thuộc vào khả năng kiểm soát đà mất giá của tiền đồng cũng như diễn biến chính sách tiền tệ của Fed”.
Tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong quý đầu tiên đã bất ngờ yếu hơn nhiều so với dự kiến. GDP ghi nhận mức tăng là 1,6% hàng năm trong quý I/2024, thấp hơn so với mức tăng trưởng là 3,4% trong quý IV/2023 và dự báo đồng thuận là 2,4%. Tuy nhiên, đáng lo ngại là lạm phát của Mỹ vẫn khá cao, tăng 3,4% trong quý I năm 2024, gần gấp đôi tốc độ của quý trước là 1,8%.
Kết quả cuộc họp tháng 5/2024 cho thấy Fed có vẻ như muốn nới lỏng các điều kiện tài chính và ngăn chặn tình trạng cạn kiệt thanh khoản, điều này cũng báo hiệu chính sách tiền tệ ôn hòa hơn so với dự đoán của thị trường. Tuy nhiên, rủi ro nghiêng về việc Fed sẽ trì hoãn việc cắt giảm hơn nữa do lạm phát ở Mỹ không giảm như kỳ vọng.
Việc Fed trì hoãn cắt giảm lãi suất sẽ tiếp tục gây áp lực lên tỷ giá và để bình ổn tỷ giá NHNN có khả năng sẽ hút ròng trở lại nhằm duy trì mức nền lãi suất đủ cao trên thị trường liên ngân hàng để ứng phó với áp lực tỷ giá, điều này sẽ gây tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán.
Fed cảnh báo lạm phát còn quá cao, nhà đầu tư nên trú ẩn vào những cổ phiếu nào?

(Ảnh minh hoạ: Shutterstock).
“Lạm phát vẫn còn quá cao”
Loạt báo cáo kinh tế mà các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nhận được trước cuộc họp chính sách mới nhất không thực sự khả quan, bởi số liệu lạm phát đã tăng nóng hơn dự kiến trong ba tháng liên tiếp.
Nhìn chung, các số liệu trên đều cho thấy lạm phát vẫn cao hơn đáng kể so với mục tiêu 2% của ngân hàng trung ương Mỹ.
Đơn cử như chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCEPI) – thước đo lạm phát ưa thích của Fed – tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước vào tháng 3.
Nếu loại bỏ giá thực phẩm và năng lượng dễ biến động, PCEPI lõi tăng 2,8% so với một năm trước. Cả hai đều cao hơn dự báo của các nhà kinh tế tham gia khảo sát của Dow Jones 0,1 điểm %.
Một thước đo khác là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,5% so với cùng kỳ và khi không tính giá năng lượng và thực phẩm, CPI lõi tăng 3,8%. Tương tự PCEPI, cả hai đều cao hơn ước tính 0,1 điểm %.

Một báo cáo khác cho thấy vào quý I, lạm phát toàn phần và lạm phát lõi lần lượt ở mức 3,4% và 3,7%. Số liệu này được công bố cùng lúc với tốc độ tăng trưởng GDP quý I chững lại còn 1,6% (tốc độ đã chuẩn hoá theo năm).
Kỳ vọng lạm phát của công chúng lại đang trên đà tăng. Khảo sát tâm lý người tiêu dùng của Đại học Michigan cho thấy người Mỹ dự đoán lạm phát trong 1 và 5 năm tới lần lượt ở mức 3,2% và 3%, cao nhất kể từ tháng 11 năm ngoái.
Lạm phát cao dai dẳng đã gợi lên một số kịch bản đáng ngại. Fed có thể phải giữ lãi suất ở mức cao trong thời gian dài hơn mong muốn của thị trường, đe doạ khả năng hạ cánh mềm của nền kinh tế.
Mối đe doạ thậm chí còn đáng sợ hơn là nếu áp lực lạm phát không dịu lại, các quan chức ngân hàng trung ương có thể không chỉ “án binh bất động” mà còn phải tính đến việc tăng lãi suất lần nữa.
Kết thúc cuộc họp chính sách vào giữa tuần trước, Fed vẫn giữ nguyên lãi suất và báo hiệu sẽ giảm chi phí đi vay trong năm nay. Tuy nhiên, các báo cáo lạm phát đáng thất vọng gần đây có thể buộc Fed phải chờ đợi thêm một lúc.
Lãi suất chuẩn đang nằm trong phạm vi 5,25 – 5,5%, cao nhất trong hơn hai thập kỷ. Ngân hàng trung ương Mỹ đã giữ lãi suất ở mức này kể từ tháng 7 năm ngoái.
Và, mặc dù Chủ tịch Jerome Powell khiến thị trường an tâm khi nhận định Fed khó có thể tăng lãi suất trở lại, ông thừa nhận rằng giá cả vẫn đang tăng quá nhanh.
Lạm phát vẫn còn quá cao. Chúng tôi chưa chắc sẽ ghi nhận thêm tiến triển trên mặt trận chống lạm phát và con đường phía trước cũng không chắc chắn
Chủ tịch Fed Jerome Powell chia sẻ tại cuộc họp báo sau quyết định chính sách.
Trái ngược với ông Powell, một số quan chức Fed khác suy đoán rằng mức lãi suất hiện tại có thể không đủ cao để hạ nhiệt nền kinh tế và lạm phát. Nếu vậy, Fed có thể phải tăng lãi suất vào một thời điểm nào đó.
Tại sự kiện của Viện Milken ở Los Angeles hôm 7/5, Chủ tịch Fed chi nhánh Minneapolis là ông Neel Kashkari cũng không loại trừ khả năng tăng lãi suất nếu lạm phát khựng lại ở mức 3%.
“Đây không phải là kịch bản cơ sở của tôi, nhưng tôi cũng không loại trừ. Tôi nghĩ khả năng Fed nâng lãi suất không quá lớn nhưng không phải là không thể”, ông Kashkari nhấn mạnh.
Ở một sự kiện vào đầu tháng 4, Thống đốc Fed Michelle Bowman – một diều hâu có tiếng – từng lưu ý: “Tôi tiếp tục nhìn thấy rủi ro là tại một cuộc họp trong tương lai, chúng ta có thể cần phải tăng lãi suất nếu xu hướng hạ nhiệt của lạm phát chững lại hoặc thậm chí đảo ngược”.

Đón nhận những tín hiệu trái chiều từ Fed, các nhà giao dịch đã giảm mạnh kỳ vọng của mình. Hồi đầu năm, họ cho rằng ngân hàng trung ương sẽ hạ lãi suất 6 hoặc 7 lần trong cả năm. Còn bây giờ, thị trường chỉ hy vọng Fed sẽ “nới tay” khoảng một hoặc hai lần.
Trong môi trường lạm phát cao dai dẳng và lãi suất khó đoán như vậy, có lẽ nhiều nhà đầu tư sẽ cảm thấy bối rối khi không biết nên nắm giữ những cổ phiếu nào. Các chuyên gia có lời khuyên gì về vấn đề này?
Cổ phiếu nào giúp chống đỡ áp lực lạm phát?
Về lý thuyết, cổ phiếu sẽ là một tấm đệm chống lạm phát cho nhà đầu tư vì giá cả tăng sẽ giúp doanh thu danh nghĩa đi lên và kéo theo là giá cổ phiếu. Nhưng mặt khác, lạm phát lại khiến biên lợi nhuận giảm do chi phí đầu vào của doanh nghiệp phình to hơn.
Trên thực tế, tác động của lạm phát đến lợi nhuận doanh nghiệp sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào lĩnh vực và khả năng chuyển phần chi phí gia tăng sang người tiêu dùng cuối cùng.
Theo phân tích từ hãng quản lý tài sản Schroders và các chuyên gia thị trường khác, năng lượng là một trong những lĩnh vực giao dịch tốt nhất khi lạm phát tấn công nền kinh tế.
Dựa theo dữ liệu do Schroders tổng hợp từ năm 1973 đến nay, trung bình mỗi năm, cổ phiếu của các công ty dầu khí Mỹ tạo ra tỷ suất sinh lời thực tế (đã điều chỉnh cho lạm phát) là 9%.
Kết quả này cũng dễ hiểu. Doanh thu của các công ty năng lượng gắn liền với giá năng lượng – một thành phần quan trọng trong rổ hàng hoá dùng để tính lạm phát. Vì vậy, cổ phiếu năng lượng dễ hoạt động tốt khi lạm phát đi lên.
Hơn nữa, căng thẳng địa chính trị và bất ổn về logistics cũng có thể ảnh hưởng đến nguồn cung năng lượng, kéo giá lên cao. Các cấm vận với dầu thô của Nga và chiến sự ở Trung Đông là những rủi ro có thể gây gián đoạn nguồn cung bây giờ.
Ngoài ra, cổ phiếu năng lượng cũng có xu hướng sinh lời trong giai đoạn lãi suất tăng cao.
Chevron là một ví dụ – đây là một trong 5 cổ phiếu lớn nhất trong danh mục đầu tư chứng khoán của Berkshire Hathaway, tập đoàn do nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett điều hành.

Tài chính là một lĩnh vực giao dịch tương đối tốt trong môi trường lạm phát, vì dòng tiền của các công ty tài chính thường tập trung vào ngắn hạn. Cổ phiếu tài chính thường bao gồm các ngân hàng, công ty bảo hiểm và công ty đầu tư.
Trong cuộc khủng hoảng năm 2008, tài chính là một trong các ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất, những cái tên lớn như Lehman Brothers phải nộp đơn xin phá sản.
Tuy nhiên, sau khi chính phủ Mỹ áp dụng các quy định và biện pháp bảo vệ mới, lĩnh vực tài chính ngày nay đã vững vàng hơn nhiều. Theo một số thống kê, lượng vốn so với tài sản có rủi ro cao của các ngân hàng lớn nhất nước Mỹ hiện cao hơn 96% so với trước cuộc khủng hoảng.
Dù vậy, cần lưu ý rằng lạm phát đôi khi sẽ có hại cho lĩnh vực tài chính, đặc biệt là các ngân hàng vì nó làm xói món giá trị hiện tại của các khoản vay sẽ được hoàn trả trong tương lai.
Bên cạnh năng lượng và tài chính, các nhà đầu tư cũng có thể tập trung vào những thứ mà người tiêu dùng cần. Khi lạm phát tăng, họ có xu hướng giảm chi tiêu. Phần giảm thường gắn với những mặt hàng chi tiêu tuỳ ý.
Nói cách khác, bất luận có lạm phát hay không, người tiêu dùng đều không thể ngừng mua điện, bột mì hay dịch vụ y tế. Cho nên, các doanh nghiệp thuộc nhóm tiện ích, hàng tiêu dùng thiết yếu và chăm sóc sức khoẻ vẫn sẽ “sống tốt”.
Tiệc ích là các nhà cung ứng các dịch vụ cần thiết như điện, nước và khí đốt. Là những công ty độc quyền do chính phủ quản lý, các công ty này thường dễ thu hồi chi phí và được phép đẩy một phần chi phí tăng thêm sang khách hàng.
Kết quả là, các công ty tiện ích thường có lợi nhuận ổn định và thường xuyên chi trả cổ tức. Ngoài ra, trong thời kỳ lạm phát tăng cao, cổ phiếu tiện ích thường giao dịch tốt hơn trái phiếu, theo hãng Reaves Asset Management.
Các công ty kinh doanh hàng tiêu dùng thiết yếu chủ yếu cung cấp thực phẩm, sản phẩm vệ sinh cá nhân, đồ gia dụng, mỹ phẩm,… Đây là những mặt hàng người tiêu dùng vẫn mua ngay cả khi giá cao hơn.
Thông thường, các công ty này không có mức tăng trưởng thu nhập tốt nhất vì họ là những doanh nghiệp đã tương đối lớn mạnh. Tuy nhiên, cổ phiếu lại ít biến động về giá và công ty trả cổ tức liên tục.
Walmart là một ví dụ điển hình. Gã khổng lồ bán lẻ không chỉ bán những thứ hầu hết mọi người cần mà còn bán với giá rẻ hơn phần lớn đối thủ. Khi người tiêu dùng cảm thấy cần phải cắt giảm chi tiêu, doanh số bán hàng của Walmart có xu hướng tăng.
Costco – nhà bán lẻ mà cố huyền thoại đầu tư Charlie Munger khen ngợi là “hoàn hảo miễn chê” – cũng là một cổ phiếu tiêu dùng thiết yếu được ưa thích. Costco là nhà bán lẻ lớn thứ ba thế giới sau Walmart và Amazon.
Cùng thuộc nhóm thiết yếu là các công ty dịch vụ y tế. Chăm sóc sức khoẻ là một lĩnh vực đặc thù, ít chịu ảnh hưởng khi giá nguyên liệu thô đi lên và thường ghi nhận biên lợi nhuận cao.
Mặt khác, khi môi trường lạm phát xuất hiện, một số nhà phân tích cho rằng tiền mặt là vua. Vậy nên, nhà đầu tư cũng có thể quan tâm đến các doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán lành mạnh – nhiều tiền mặt và ít nợ nần.
Berkshire Hathaway của Warren Buffett là ví dụ hàng đầu. Tập đoàn đang nắm giữ khối tiền mặt cao kỷ lục là 189 tỷ USD vào cuối quý I.
Núi tiền mặt cho phép Berkshire không cần phải vay tiền với lãi suất cao. Quan trọng hơn, tiền mặt giúp tập đoàn có sẵn vốn để mua lại đối thủ hoặc mua cổ phiếu với giá thấp hơn (như khi thị trường chứng khoán bị bán tháo).
Các công ty con của Berkshire hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, một số còn là ngành thiết yếu như bảo hiểm, thực phẩm. Do vậy, các công ty này có quyền định giá đáng kể trên thị trường.




