Thu hút FDI thế hệ mới – Bài 1: Không để lỡ nhịp ‘cuộc chơi’
Thay vì chú trọng số lượng, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam đang chú trọng tới chất lượng dự án, thu hút đầu tư có chọn lọc hướng đến các dự án công nghệ cao, đầu tư xanh…

Dây chuyền sản xuất quần áo xuất khẩu của một doanh nghiệp FDI ở Đồng Nai. Ảnh: TTXVN
Cuộc chiến chống tham nhũng và những nỗ lực hoàn thiện chính sách kinh tế của Chính phủ Việt Nam đã và đang góp phần làm trong sạch, minh bạch cỗ máy vận hành kinh tế, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, nhiều quốc gia đã chuyển hướng thu hút đầu tư, kinh tế Việt Nam với những thay đổi về nội tại cũng đang được định hướng phát triển theo xu thế mới.
Năm 2024 được xem là thời cơ, bước ngoặt để tăng số lượng và chất lượng thu hút đầu tư FDI. Thay vì chú trọng số lượng, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam đang chú trọng tới chất lượng dự án, thu hút đầu tư có chọn lọc hướng đến các dự án công nghệ cao, đầu tư xanh, có giá trị gia tăng cao và có tính lan tỏa, không chỉ thụ động như giai đoạn trước, đúng theo tinh thần của Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
TTXVN đã thực hiện chùm 5 bài viết với chủ đề: Thu hút FDI thế hệ mới: Không để lỡ nhịp “cuộc chơi” đánh giá về những tiềm năng, lợi thế và phân tích thực trạng thu hút FDI thế hệ mới tại Việt Nam, từ đó nêu giải pháp thu hút FDI thế hệ mới hiệu quả trong thời gian tới.
Bài 1: Không để lỡ nhịp “cuộc chơi”
Thu hút FDI thế hệ mới được hiểu là hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp nước ngoài có công nghệ cao, tập trung nghiên cứu và phát triển, năng lực quản trị hiện đại, mang lại giá trị gia tăng cao cho kinh tế Việt Nam… Trước đây, Việt Nam cần vốn và có nguồn lao động dồi dào nên mong muốn có nhiều nhà đầu tư vào cung ứng vốn, sử dụng nhiều lao động.
Nhưng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam, việc thu hút FDI phải hướng đến chuyển giao công nghệ, tạo ra sự liên kết và chuỗi giá trị. Vì vậy, Việt Nam đang khẩn trương thu hút dòng vốn FDI công nghệ cao; trong đó, có việc chuẩn bị các điều kiện đón nhận dự án đầu tư trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp bán dẫn.
Lợi thế hút vốn FDI thế hệ mới
Việt Nam được coi là mắt xích sản xuất mới của châu Á, đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng sản xuất thông minh toàn cầu do có lợi thế về điều kiện tự nhiên, là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có trữ lượng đất hiếm, một nguyên liệu quan trọng trong sản xuất chip bán dẫn.

Việt Nam có trữ lượng đất hiếm 22 triệu tấn, đứng thứ 2 thế giới, chỉ xếp sau Trung Quốc. Ảnh: AFP/TTXVN
Theo các chuyên gia, Việt Nam có trữ lượng đất hiếm 22 triệu tấn, đứng thứ 2 thế giới, chỉ xếp sau Trung Quốc. Việt Nam có thể khai thác đất hiếm không chỉ xuất khẩu đem về 15-16 tỷ USD/năm mà còn là một điều kiện hợp tác, cùng phát triển công nghiệp bán dẫn với nhiều quốc gia trên thế giới. Nhờ đó, các tập đoàn hàng đầu công nghiệp bán dẫn như Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… đã ký thỏa thuận hợp tác và sắp tới sẽ thực hiện một loạt dự án liên doanh, đầu tư trực tiếp nước vào ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam.
Cùng đó, Việt Nam ưu tiên các dự án như công nghệ cao, các dự án điện tử, bán dẫn, đổi mới sáng tạo… trên cơ sở Việt Nam đã nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các nước có ngành công nghiệp bán dẫn phát triển. Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện nêu rõ hai nội dung hợp tác đột phá là đổi mới sáng tạo và công nghệ cao; trong đó có ngành công nghiệp bán dẫn.
Cùng với tiềm năng về công nghiệp bán dẫn, các tổ chức quốc tế đánh giá: Việt Nam nổi lên như một điểm sáng, thăng hạng trong thu hút FDI. Bộ phận nghiên cứu toàn cầu của Ngân hàng HSBC nhận định: Việt Nam thuộc nhóm 3 quốc gia cùng với Singapore, Malaysia vượt trội trong ASEAN về thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ. Việt Nam là thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài bởi những thế mạnh của nền kinh tế.
Đó là, nền kinh tế phục hồi và phát triển ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới mức mục tiêu. Các rào cản trong kinh doanh, đầu tư được dỡ bỏ, mở đường cho môi trường thông thoáng, minh bạch và đầy cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu, rộng vào khu vực và thế giới, đã ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do, với hơn 60 đối tác phủ rộng khắp các châu lục.
Xét về mức độ tự do hóa tiếp cận thị trường, theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam hiện ngang hàng với Singapore – quốc gia phát triển nhất khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, Việt Nam có lực lượng lao động có chất lượng, chi phí hợp lý đã và đang hoạt động trong ngành công nghiệp điện tử dễ dàng chuyển đổi sang, với hơn 50% dân số dưới 30 tuổi (thời kỳ dân số vàng) và khoảng 1,8 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng hàng năm.
Ông Lim Dyi Chang, Giám đốc cấp cao Khối Ngân hàng doanh nghiệp, Ngân hàng UOB Việt Nam chia sẻ: “Chúng tôi đã chứng kiến sự chuyển dịch đáng chú ý về cơ cấu đầu tư tại Việt Nam, chuyển đổi từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang các lĩnh vực công nghệ, truyền thông và dịch vụ.
Điều này phản ánh bối cảnh đang phát triển của nền kinh tế Việt Nam, tập trung vào sản xuất chip công nghệ cao, thị trường kỹ thuật số và du lịch. Ngành công nghiệp chế biến và chế tạo tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài đáng kể nhất; trong đó, Việt Nam đóng vai trò là cơ sở sản xuất nhiều sản phẩm công nghệ cao”.
“Điểm mặt” những rào cản
Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết: Tính đến ngày 20/4/2024, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt gần 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, vốn thực hiện của các dự án FDI 4 tháng ước đạt 6,28 tỷ USD tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 4 tháng đầu năm trong 5 năm qua.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam họp bàn kế hoạch triển khai Quy hoạch điện VIII. Ảnh: BNEWS/TTXVN phát
Hiện các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn để đầu tư, đặt địa điểm chiến lược cho sản xuất phân tán. Tuy nhiên theo các chuyên gia, việc hiện thực hóa được các cơ hội đang mở ra cũng không hề dễ dàng trong bối cảnh hiện nay. Cụ thể là thủ tục hành chính, quy định luật pháp rõ ràng và nhất quán… đang là các vấn đề mà nhà đầu tư và doanh nghiệp quan tâm nhất.
Các doanh nghiệp nước ngoài cho biết đang theo dõi một số thay đổi quy định sắp tới có khả năng định hình lại đáng kể môi trường hoạt động của họ; trong đó, một số lĩnh vực mà các doanh nghiệp đang rất quan tâm như: việc triển khai cụ thể Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch Điện VIII), thỏa thuận mua điện trực tiếp; việc triển khai và ảnh hưởng của Luật Đất đai 2024…
Mới đây, tại hội nghị gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp có vốn FDI và Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên năm 2024 (VBF 2024), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu một số tồn tại của khu vực FDI như: Chất lượng đầu tư, trình độ công nghệ và chuyển giao công nghệ ở một số dự án còn hạn chế; tỉ lệ nội địa hóa còn thấp.
Sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI còn chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả, bền vững. Số lượng, quy mô các dự án đầu tư vào công nghệ cao, xanh, sạch, thân thiện môi trường còn khiêm tốn. Còn tình trạng một số địa phương chưa đáp ứng đủ nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho các dự án FDI quy mô lớn, công nghệ cao; còn phát sinh những bất cập trong quan hệ lao động…
Thái Nguyên là một trong những địa phương nằm trong “Top” điểm sáng thu hút FDI. Ông Trần Quốc Trung, Phó Trưởng Ban Quản lý các Khu công nghiệp Thái Nguyên bày tỏ: Địa phương vẫn còn gặp khó khăn, thách thức trong thu hút dự án FDI chất lượng cao, bền vững vào các khu công nghiệp do tính nhất quán, ổn định, minh bạch của hệ thống pháp luật đối với các nhà đầu tư.
“Màng lọc” cho những dự án chất lượng
Để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, đón dòng vốn đầy tư chất lượng cao, cũng tại hội nghị gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp có vốn FDI và Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên năm 2024 (VBF 2024), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã yêu cầu các bộ, ngành địa phương bám sát tình hình quốc tế, trong nước để chủ động điều chỉnh phù hợp các cơ chế, chính sách thu hút FDI, bảo đảm linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phù hợp tình hình Việt Nam và xu thế thế giới. Đồng thời, tập trung xây dựng và thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm sự hấp dẫn, công khai, minh bạch, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế.

Cùng với việc thu hút đầu tư có chọn lọc, tại Việt Nam cũng đã có nhiều cuộc hội thảo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành công nghiệp chip bán dẫn. Ảnh: Văn Dũng – TTXVN
Cùng với đó, thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, có sức lan tỏa lớn, thân thiện môi trường, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và các ngành, lĩnh vực mới nổi như: chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, hydrogen…; tham gia sâu rộng vào các chuỗi sản xuất, cung ứng khu vực, toàn cầu.
Trước đó, Chính phủ cũng có văn bản yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai các giải pháp đã được nêu tại Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 2/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030 và Quyết định số 308/QĐ-TTg ngày 28/3/2023 phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 – 2030.
Theo đó, các bộ, ngành phối hợp, hỗ trợ các địa phương xúc tiến, đàm phán, tư vấn chính sách, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đón dòng vốn đầu tư nước ngoài trên nguyên tắc các bên cùng có lợi; tuyên truyền quảng bá về sự sẵn sàng của Việt Nam đón nhận làn sóng đầu tư thế hệ mới với các lợi thế về tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ, môi trường đầu tư thực sự thuận lợi với sự đồng hành, hỗ trợ tối đa của chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
Đồng thời, cơ sở hạ tầng không ngừng được hoàn thiện, đặc biệt là hạ tầng giao thông, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; hoàn thiện chính sách hỗ trợ đầu tư ngoài thuế đối với dự án công nghệ cao khi áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu…
Ngoài ra, các bộ, ngành và địa phương đẩy nhanh việc ban hành và thực thi chính sách để ngành công nghiệp hỗ trợ có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển thời gian sắp tới. Từ đó giúp các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam có thể kết nối và tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong làn sóng đầu tư giai đoạn tới; thúc đẩy triển khai các dự án năng lượng theo Quy hoạch Điện VIII và sớm khắc phục tình trạng thiếu điện tại một số địa phương.
Về thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp chíp bán dẫn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định: Việt Nam đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tư; đồng thời, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành bán dẫn. Theo đó, các ngành chức năng tập trung đầu tư, đào tạo, đào tạo lại cho lực lượng lao động để trong thời gian sớm nhất có thể gia nhập vào thị trường lao động.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, ước tính nhu cầu thế giới sẽ cần tăng thêm hơn 1 triệu nhân sự vào năm 2030 cho tất cả các khâu thiết kế, sản xuất, lắp ráp, đóng gói và kiểm thử chip. Chính phủ đã đặt mục tiêu đào tạo được 50 nghìn kỹ sư phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn trong tất cả các công đoạn của chuỗi giá trị.
Thu hút FDI thế hệ mới – Bài 2: ‘Xây tổ’ đón ‘đại bàng’
Việc thực hiện tốt chiến lược “xây tổ” đón “đại bàng” … sẽ giúp Việt Nam nắm bắt được lợi thế để trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trên thế giới.

Toàn cảnh nhà máy Công ty Toyota Việt Nam (vốn đầu tư của Nhật Bản) ở Vĩnh Phúc. Ảnh: Danh Lam – TTXVN
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Duy Đông cho biết, “Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đang rất quyết liệt chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành liên quan chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để đón nhận được làn sóng đầu tư mới”. Chính phủ đã giao các bộ, ngành; trong đó có Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai nhiều công việc, thể hiện sự sẵn sàng và mong muốn đón nhận làn sóng đầu tư trong ngành sản xuất điện tử, chíp bán dẫn, sản xuất thông minh. Bên cạnh nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ cho các ngành công nghệ cao, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết giao Chính phủ xây dựng Nghị định về Quỹ hỗ trợ đầu tư, chuẩn bị các điều kiện về hạ tầng đất đai, hạ tầng giao thông, viễn thông, điện nước…

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trần Duy Đông. Ảnh: MPI
Dự báo với sự xuất hiện của làn sóng đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam đang kéo theo nhu cầu lớn về thuê mặt bằng trong các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất. Các KCN đóng góp khoảng 50% kim ngạch xuất khẩu của các nước và là khu vực trọng điểm thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước, là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, theo TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), vẫn còn khá nhiều tồn tại trong phát triển, quản lý các KCN như: quy hoạch phát triển các KCN tại một số địa phương chưa sát với nhu cầu phát triển và khả năng thu hút vốn đầu tư; mô hình phát triển KCN còn chậm đổi mới, thiếu vắng các khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp đô thị – dịch vụ…

TS. Phan Hữu Thắng – nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Ảnh: BNEWS/TTXVN phát
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, KCN tại Việt Nam vẫn chủ yếu phát triển theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực với mục tiêu chính là tăng diện tích lấp đầy. Trong vài năm gần đây, một số loại hình như KCN sinh thái, KCN chuyên ngành, KCN hỗ trợ, KCN công nghệ cao đã bước đầu hình thành và phát triển tại một số địa phương, song số lượng còn hạn chế. Các chính sách ưu đãi đầu tư đối với các loại hình KCN mới và các dự án đầu tư vào các KCN này không có sự khác biệt so với các KCN đa ngành thông thường.
Các loại hình khu chức năng trong khu kinh tế (KKT) chậm có sự đổi mới. Việc huy động nguồn vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển còn hạn chế. Nhiều địa phương vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, chưa tích cực, sáng tạo trong việc huy động nguồn vốn khác.
Trong khi đó, mô hình phát triển trên thế giới đã thay đổi đáng kể theo hướng chuyên ngành, chuyên môn hóa và phát triển bền vững, đảm bảo tính hiện đại, cạnh tranh để bắt kịp tiến trình của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang đề xuất xây dựng luật với tên gọi dự kiến là Luật Khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm tạo điều kiện cho Việt Nam xây dựng những khu công nghiệp lớn đáp ứng được xu thế vận động mới trên thế giới như: kinh tế xanh, kinh tế số, tuần hoàn, năng lượng xanh… Các quy định nhằm đổi mới, đa dạng hóa các loại hình KCN, khu kinh tế, khu chức năng trong khu kinh tế mới và khuyến khích đầu tư vào các loại hình này để thích ứng với yêu cầu trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế; đảm bảo sức hấp dẫn, cạnh tranh quốc tế của KCN, khu kinh tế trong thu hút, hợp tác đầu tư; trong đó lấy đổi mới mô hình phát triển, phương thức quản lý tiên tiến, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong KCN, khu kinh tế làm nền tảng.
Để gia tăng số lượng các khu công nghiệp kiểu mới, khu công nghiệp xanh đón dòng đầu tư chất lượng cao, tiềm lực tài chính và năng lực thực hiện của doanh nghiệp là quan trọng. Ông Nguyễn Hồng Chung, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp nhận định, trong bối cảnh nguồn ngân sách Nhà nước có hạn và ưu tiên đầu tư phát triển cho kết cấu hạ tầng quan trọng, cần có những chính sách thu hút đầu tư kết cấu hạ tầng KCN từ nguồn vốn tư nhân, đặc biệt cần có những thay đổi căn bản trong việc khơi thông các dòng vốn, tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận thuận lợi với các nguồn vốn tín dụng. Bên cạnh đó hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ tạo điều kiện về hành lang pháp lý thu hút các nguồn lực đầu tư tư nhân.
Cùng với đó, giảm bớt thủ tục hành chính và hoàn thiện trình tự, thủ tục, điều kiện đầu tư hạ tầng KCN; cần có các quy định cụ thể nhằm làm rõ chính sách hỗ trợ và hợp tác phát triển, tiêu chí xác định, ưu đãi, chứng nhận, trình tự, thủ tục đăng ký chứng nhận KCN sinh thái; đồng thời, quy định cụ thể các chính sách ưu đãi đối với các loại hình KCN mới nhằm có lợi trực tiếp cho doanh nghiệp hạ tầng, doanh nghiệp đầu tư vào KCN vì sẽ có nhiều sự lựa chọn, nâng cao hiệu quả đầu tư.
“Ngoài ra cũng cần làm rõ hơn thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong việc định hướng và hỗ trợ triển khai các KCN sinh thái tại địa phương; đơn giản hóa các điều kiện, tiêu chí và thủ tục chứng nhận KCN sinh thái, doanh nghiệp sinh thái; quy định việc thực hiện theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả thực hiện KCN sinh thái và doanh nghiệp sinh thái trên hệ thống thông tin về KCN, KKT theo định hướng chuyển đổi số; các quy định liên quan đến chứng nhận lại hoặc chấm dứt hiệu lực, thu hồi Giấy chứng nhận KCN sinh thái, doanh nghiệp sinh thái”, ông Nguyễn Hồng Chung đề xuất.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Ranjit Thambyrajah, Chủ tịch Acuity Funding nhìn nhận, sự gia tăng dự kiến trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu sẽ làm tăng nhu cầu đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng và hậu cần. Bởi thế, cần xây dựng các KCN tích hợp đầy đủ và trung hòa năng lượng phù hợp với tương lai của sản xuất. Khi sản xuất tại Việt Nam trở nên tinh xảo hơn, nhu cầu về lực lượng lao động lành nghề sẽ tăng lên. Để chuẩn bị cho nhu cầu này, Việt Nam sẽ cần đầu tư hơn nữa vào giáo dục và đào tạo để cung cấp cho các ngành công nghiệp lực lượng lao động có năng lực.
Sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới về thu hút FDI và đặc biệt là đối với ngành điện tử, bán dẫn đang rất khốc liệt vì các quốc gia đều thấy lợi ích, tiềm năng và quy mô của ngành này là rất lớn. Thực hiện tốt chiến lược “xây tổ” đón “đại bàng” … sẽ giúp Việt Nam nắm bắt được lợi thế để trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trên thế giới.
Thu hút FDI thế hệ mới – Bài 3: Bước ‘chạy đà’ của thị trường bất động sản
Tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) rót vào lĩnh vực bất động sản giữ vị trí thứ hai trong tổng vốn đầu tư, với số vốn đăng ký trong 4 tháng khoảng 1,6 tỷ USD, tăng gần 4 lần so với cùng kỳ năm 2023.

(Ảnh minh hoạ: iStock).
Tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) rót vào lĩnh vực bất động sản giữ vị trí thứ hai trong tổng vốn đầu tư, với số vốn đăng ký trong 4 tháng khoảng 1,6 tỷ USD, tăng gần 4 lần so với cùng kỳ năm 2023.
Tiến sỹ Nguyễn Văn Đính – Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam nhận định: Thị trường bất động sản cả nước đang từng bước hồi phục và chuẩn bị bước vào chu kỳ phát triển mới. Chính vì vậy, đây sẽ là thị trường tiềm năng để nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia.
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong 4 tháng qua, cả nước có 1.376 doanh nghiệp bất động sản đăng ký thành lập mới. Con số này giảm nhẹ khoảng 1,3% so với cùng kỳ năm 2023 nhưng lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động lại tăng 22% so với cùng kỳ với khoảng 1.302 doanh nghiệp.
Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARS) đánh giá, thị trường bất động sản đang có dấu hiệu khởi sắc trở lại khi các chủ đầu tư đã sẵn sàng tung nhiều sản phẩm mới ra chào bán trên thị trường. Ngay từ cuối quý I/2024, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu triển khai nhiều sự kiện khởi động để làm “nóng” thị trường.
Tại nhiều nơi, một số dự án có tiến độ triển khai tốt đã chính thức nhận cọc trước ngày mở bán chính thức với số lượng cầu đang vượt xa nguồn cung.
Với bước “chạy đà” này, thị trường bất động sản ghi nhận sự khởi sắc. Đây cũng là động thái lạc quan khiến các chuyên gia bày tỏ kỳ vọng dòng vốn FDI tiếp tục đổ mạnh vào bất động sản bởi đây vẫn là thị trường tiềm năng, có dư địa phát triển lớn.
Bà Trang Bùi – Tổng giám đốc Công ty Cushman & Wakefield Việt Nam cho rằng, Việt Nam đã và đang lọt vào tầm ngắm của lượng lớn nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có nhiều biến động, một quốc gia mới nổi như Việt Nam đã trở thành thị trường tiềm năng thu hút đầu tư.
Đặc biệt, tỷ suất lợi nhuận hấp dẫn ở một thị trường chính là yếu tố quan trọng trong các quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, động lực rất quan trọng tạo nên sức hấp dẫn mới cho thị trường bất động sản thời gian tới là tác động tích cực của Luật Đất đai sửa đổi kỳ vọng sẽ có hiệu lực sớm từ ngày 1/7/2024.
Cùng đó, các luật khung quan trọng liên quan trực tiếp đến thị trường là Luật Nhà ở sửa đổi và Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi cũng đồng thời có hiệu lực tạo sự đồng bộ về pháp lý cho lĩnh vực này.
Mặt khác, các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh chứng khoán có nhiều biến động, vàng liên tục tăng giá, lãi suất tiết kiệm về mức thấp nhất (khoảng 4 – 5% cho kỳ hạn 12 tháng) thì bất động sản vẫn sẽ là kênh đầu tư nhiều triển vọng.
Với riêng các nhà đầu tư nước ngoài, văn phòng cho thuê và bất động sản công nghiệp là hai phân khúc được quan tâm nhiều nhất và dự báo sẽ rất sôi động trong năm 2024.
Ông Nguyễn Trọng Toàn, Quản lý bộ phận đầu tư, Savills Hà Nội phân tích, bất động sản Việt Nam vẫn duy trì là điểm đến đầu tư đáng chú ý của các nhà đầu tư và phát triển nước ngoài tại những vị trí và phân khúc có dư địa phát triển tốt. Mỗi phân khúc bất động sản của thị trường Việt Nam trong năm 2024 đều có những điểm nhấn đầu tư riêng thu hút nhà đầu tư ngoại.
Phân khúc bất động sản văn phòng qua quan sát của Savills cho thấy, tăng trưởng nguồn cầu từ khối doanh nghiệp năng lượng, sản xuất và tư vấn đã góp phần duy trì tỷ lệ lấp đầy ổn định.
Đặc biệt, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh, xu hướng thị trường văn phòng mở ra cơ hội cho những nhà đầu tư nước ngoài có năng lực đầu tư và định vị sản phẩm đạt tiêu chuẩn xanh hay các chứng chỉ về môi trường như LEED, WELL, BREEAM…
Đơn cử như thị trường Hà Nội, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu mở rộng phạm vi đầu tư tại những khu vực đang phát triển của thành phố thay vì tập trung tại quận trung tâm nhằm đón bắt xu hướng dịch chuyển của nhóm văn phòng cơ quan hành chính công tư, sự phát triển của hạ tầng giao thông thành phố và xu hướng tập trung dân cư tại nhiều dự án đại đô thị bao quanh thành phố – ông Toàn dẫn chứng.
Còn với bất động sản công nghiệp – điểm sáng bền vững nhất trong thu hút FDI trên thị trường bất động sản Việt Nam, ông Trương Gia Bảo – Phó Chủ tịch Liên Chi hội Bất động sản Công nghiệp Việt Nam nhận xét: “Với sự cải thiện về dòng vốn đầu tư trong năm 2024, phân khúc bất động sản công nghiệp sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ.
Thời gian tới, thu hút FDI tiếp tục là thế mạnh và điểm sáng cùng với các chính sách vĩ mô, dự án hạ tầng quan trọng được đầu tư… sẽ tạo ra triển vọng tích cực cho thị trường bất động sản công nghiệp”.
Tuy nhiên, chuyên gia này cũng khuyến cáo, để tiếp tục duy trì và phát triển mạnh mẽ phân khúc bất động sản công nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chưa phải “con tàu nhiều khoang” mà chỉ là một “khoang nhỏ” thì vẫn cần có chiến lược cụ thể; chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cần thiết để thu hút đầu tư, nhất là rà soát bổ sung quỹ đất sạch.
Để tiếp tục duy trì và phát triển mạnh mẽ phân khúc bất động sản công nghiệp giàu tiềm năng, Việt Nam cần có một kịch bản thu hút đầu tư FDI mới. Ở thời điểm hiện tại, kịch bản thu hút đầu tư FDI kinh điển đang là “trải thảm đỏ” bằng ưu đãi thuế hay nhân công giá rẻ. Nhưng đây sẽ không còn là yếu tố then chốt nữa, thậm chí đã lỗi thời bởi hiện nay không chỉ mỗi Việt Nam sử dụng thế mạnh này.
Kinh nghiệm thu hút FDI của Ấn Độ cho thấy, để thu hút các “đại bàng” về làm tổ thành công, một trong những yếu tố được Chính phủ Ấn Độ coi trọng đó là thiết lập quỹ đất sạch trên 460.000 ha rộng lớn – tương đương 6 lần diện tích Singapore và gấp đôi diện tích của Luxembourg (Bỉ) – ông Bảo chia sẻ.
Điều đó chứng tỏ, các nhà đầu tư FDI dành nhiều sự quan tâm và chú trọng vào những địa phương đã hình thành được quỹ đất sạch, cho dù giá đất có cao hơn nhiều lần. Bởi nếu là nhà đầu tư thuần khiết, không ai muốn lăn tăn và mất thời gian trong việc giải quyết thủ tục pháp lý vì tranh chấp trong đền bù, giải phóng mặt bằng.
Ông Trương Gia Bảo cho rằng, muốn hấp dẫn được “đại bàng” về làm tổ thì cần có chiến lược cụ thể cho từng đối tác, không nên đưa ra mục tiêu chung chung, tràn lan. Thành quả thu hút FDI không chỉ được đánh giá bằng tổng số vốn đăng ký. Muốn vậy, phải chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cần thiết để thu hút đầu tư, nhất là rà soát, bổ sung quỹ đất sạch.
Thu hút FDI thế hệ mới – Bài 4: Công cụ lựa chọn dự án chất lượng
Việt Nam đã sẵn sàng cho sân chơi mới, hoàn cảnh mới, điều kiện mới trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), nhất là các dự án chất lượng cao.

(Ảnh minh hoạ: Báo Chính phủ).
Từ tháng 5-6/2024, dự thảo Nghị định quy định chi tiết Nghị quyết 107/2023/QH15 của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu (hay còn gọi là thuế tối thiểu toàn cầu) được lấy ý kiến các bộ, ngành, hiệp hội, cơ quan liên quan và đối tượng chịu sự tác động.
Sau đó, tháng 7/2024, cơ quan soạn thảo sẽ tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý để hoàn thiện, gửi lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và dự kiến tháng 10/2024 nghị định sẽ được ban hành.
Điều này cho thấy, Việt Nam đã sẵn sàng cho sân chơi mới, hoàn cảnh mới, điều kiện mới trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), nhất là các dự án chất lượng cao.
Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh, năm 2024 các nước có vốn đầu tư ra nước ngoài về cơ bản sẽ áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu để thu thêm phần chênh lệch từ mức thuế thực tế so với thuế tối thiểu toàn cầu (15%); trong đó, có các nước có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hong Kong (Trung Quốc), Singapore…
Nếu Việt Nam áp dụng quy định về thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn thì sẽ thu thêm thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung đối với những doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng.
Theo tính toán sơ bộ với số liệu quyết toán thuế năm 2022, có 122 tập đoàn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng từ việc áp dụng quy định về thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn và số thuế Việt Nam sẽ thu được khi áp dụng quy định này ước tính khoảng 14.600 tỷ đồng.
Khi Việt Nam áp dụng Quy định tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu (IIR) đối với những doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, theo tính toán sơ bộ với số liệu quyết toán thuế năm 2022 thì có khoảng 6 tập đoàn của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cũng chịu ảnh hưởng của quy định IIR và số thuế thu được ước tính khoảng 73 tỷ đồng (nếu nước nhận đầu tư không áp dụng quy định về thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn).
Phó Tổng cục trưởng Đặng Ngọc Minh cho biết: Thuế tối thiểu toàn cầu không phải là điều ước quốc tế, không phải là cam kết quốc tế, không bắt buộc các quốc gia phải áp dụng.
Song nếu Việt Nam không áp dụng thì vẫn phải chấp nhận việc các quốc gia khác áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu, có quyền thu thuế bổ sung đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam được hưởng mức thuế suất thực tế tại Việt Nam thấp hơn mức tối thiểu toàn cầu 15%, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Do đó, việc áp dụng các quy định về thuế tối thiểu toàn cầu sẽ mang lại cho Việt Nam những cơ hội mới, như tăng nguồn thu ngân sách nhà nước từ phần thu thuế bổ sung; tăng cường hội nhập quốc tế; hạn chế hiện tượng trốn thuế, tránh thuế, chuyển giá, chuyển lợi nhuận.
Các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, đây cũng là động lực để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi và ban hành chính sách mới, thu hẹp khoảng cách về chính sách giữa nội luật và thông lệ quốc tế, góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước.
Bên cạnh đó, là cơ hội để rà soát và cập nhật chính sách ưu đãi đầu tư, qua đó không ngừng hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Ngoài ra, thúc đẩy quá trình thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam tới năm 2030 theo Quyết định 508/QĐ-TTg ngày 23/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ với 3 trụ cột về: cải cách thể chế quản lý thuế hiệu quả theo hướng hội nhập; trong đó, có việc áp dụng đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán quốc tế là một vấn đề được cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm; phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin hiện đại trong bối cảnh kinh tế số.
Tuy nhiên, việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu cũng sẽ gặp phải một số thách thức. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Trí Dũng cho biết: Mức thuế doanh nghiệp tối thiểu toàn cầu 15% đối với các công ty đa quốc gia sẽ làm giảm tính cạnh tranh của môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Qua đó, làm ảnh hưởng đến mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài, thể hiện trên một số mặt như khó khăn trong việc thu hút các dự án đầu tư quy mô lớn, nhất là các dự án thuộc diện đặc biệt ưu đãi đầu tư. Tiếp đến là việc giữ chân các nhà đầu tư lớn cũng như việc khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng đầu tư kinh doanh tại Việt Nam gặp khó khăn nếu Việt Nam không kịp thời có các giải pháp.
Ông Jonathan Pemberton, chuyên gia cấp cao của Trung tâm Đầu tư và Thuế quốc tế (ITIC) cho rằng, quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu (GloBE) đang được áp dụng ở nhiều nơi và có 35 nước, lãnh thổ (khu vực tài phán) đang thực hiện GloBE từ năm 2024.
Theo khảo sát của ông Jonathan Pemberton, những quốc gia đang gặp thách thức là thấu hiểu quy định và chuyển quy định thành hệ thống pháp luật trong nước, đảm bảo sự tương thích với OECD. Đối với Việt Nam, sẽ cần cơ chế, quy trình về pháp lý để thực hiện quy định, tuy nhiên có thể sẽ phù hợp hơn nếu điều chỉnh bằng văn bản dưới luật.
“Mỗi quốc gia sẽ có cách tiếp cận và thực thi khác nhau. Chúng ta không đơn độc, nhiều quốc gia cũng đang quan tâm về vấn đề thực thi thuế tối thiểu toàn cầu để đảm bảo thực thi công bằng, tránh đánh thuế chung” ông Jonathan Pemberton cho biết.
Theo các chuyên gia kinh tế, khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài (FDI) đã đóng góp quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến ngày 20/4/2024, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt gần 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2023. Đây được coi là điểm sáng của nền kinh tế trong 4 tháng đầu năm.
Ông Đinh Trọng Thịnh chuyên gia kinh tế chỉ rằng, ưu đãi về thuế là công cụ chủ yếu để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, một khi mức thuế tối thiểu toàn cầu 15% được áp dụng, Việt Nam sẽ phải cải thiện những công cụ khác để không bị chậm nhịp trên đường đua thu hút FDI nhưng vẫn phải đảm bảo lợi ích hợp lý của Việt Nam.
Ông Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài đề xuất, cần nhanh chóng rà soát các doanh nghiệp FDI chịu ảnh hưởng, đánh giá khả năng thu thuế bổ sung, mức độ tác động tới môi trường đầu tư; rà soát toàn bộ quy định hiện hành về chính sách ưu đãi đầu tư, để loại bỏ những chính sách không còn phù hợp với quy định thuế tối thiểu toàn cầu. Chỉ khi xác định đầy đủ mức độ tác động thì mới có thể có giải pháp phù hợp.
Thu hút FDI thế hệ mới – Bài cuối: Sẵn sàng đón dòng đầu tư tỷ USD
Dòng vốn đầu tư chất lượng đổ vào Việt Nam thời gian tới kỳ vọng sẽ rất lớn, đặc biệt là dòng vốn vào ngành công nghiệp bán dẫn. Để đón đầu cơ hội này, các ngành chức năng, địa phương và doanh nghiệp đang từng bước hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách, hạ tầng và nguồn nhân lực.

(Ảnh minh hoạ: Shutterstock).
Định hướng thu hút FDI của Việt Nam hiện nay là thu hút đầu tư có chọn lọc hướng đến các dự án công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao và có tính lan tỏa; trong đó, ưu tiên các dự án như công nghệ cao, các dự án điện tử, bán dẫn, đổi mới sáng tạo….
Dòng vốn đầu tư chất lượng đổ vào Việt Nam thời gian tới kỳ vọng sẽ rất lớn, đặc biệt là dòng vốn vào ngành công nghiệp bán dẫn. Để đón đầu cơ hội này, các ngành chức năng, địa phương và doanh nghiệp đang từng bước hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách, hạ tầng và nguồn nhân lực.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đỗ Thành Trung:
Việt Nam đang tập trung vào yếu tố sẵn sàng trong thu hút các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới. Cụ thể, về thể chế, Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Đặc biệt, Việt Nam đã và đang xây dựng nhiều cơ chế ưu đãi đầu tư hấp dẫn cho các công ty, tập đoàn công nghệ; trong đó có ngành bán dẫn điện tử, chíp…. Các dự án đầu tư vào ngành bán dẫn thuộc lĩnh vực công nghệ cao được áp dụng các ưu đãi cao nhất trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam.
Về cơ sở hạ tầng, Việt Nam đang đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy, hàng không, hạ tầng liên quan đến phục vụ sản xuất trong các ngành.
Gần đây, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bảo đảm ưu tiên cung cấp điện ổn định cho các dự án đầu tư và hướng tới phát triển năng lượng bền vững.
Cùng đó, Việt Nam đang tập trung phát triển các khu công nghệ cao, đặc biệt là Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia để tạo môi trường, thể chế vượt trội, tạo điều kiện tốt nhất cho các tập đoàn nước ngoài đầu tư, sản xuất tại Việt Nam.
Về nguồn nhân lực, Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ phù hợp với ngành bán dẫn. Bên cạnh đó, Việt Nam có các cơ quan có năng lực đào tạo, nghiên cứu, các trường đại học uy tín… như Viettel, VNPT, FPT, CMC….
Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực cho ngành bán dẫn, bảo đảm cung cấp 50.000 nhân lực chất lượng cao cho ngành bán dẫn đến năm 2030.
Với vị trí địa lý thuận lợi cho các nhà đầu nước ngoài, Chính phủ Việt Nam quyết tâm cao trong việc theo đuổi, phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, chíp. Việt Nam đang xây dựng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp bán dẫn và hỗ trợ tối đa cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là Hoa Kỳ, đầu tư kinh doanh trong chuỗi cung ứng ngành bán dẫn tại Việt Nam.
Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bắc Giang Mai Sơn:
Hiện nay, tại các khu công nghiệp của Bắc Giang có 3 doanh nghiệp sản xuất trong công nghiệp bán dẫn; trong đó có 2 doanh nghiệp của Hàn Quốc và 1 doanh nghiệp của Pháp. Đối với doanh nghiệp sản xuất chip bán dẫn của Hàn Quốc đóng trên địa bàn tỉnh, tỉ lệ lao động phổ thông thấp hơn, khoảng 50-60%, còn lại 15% có trình độ đại học, 25% có trình độ cao đẳng.
Để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ sản xuất ngày càng mở rộng của các doanh nghiệp trên địa bàn và để chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đón làn sóng đầu tư mới trong ngành công nghiệp bán dẫn, Bắc Giang đã chỉ đạo trường Cao đẳng Việt Hà triển khai dự án do Hàn Quốc tài trợ qua ODA, phối hợp chặt chẽ với công ty sản xuất chip bán dẫn của Hàn Quốc hoạt động trên địa bàn tỉnh để đào tạo nhân lực, phục vụ cho ngành bán dẫn.
Bắc Giang cũng đã có 2 đoàn công tác đi Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc), gặp gỡ các nhóm; đồng thời có những trao đổi, ký kết hỗ trợ Bắc Giang trong đào tạo ngành bán dẫn.
Đồng thời, tỉnh cũng đã phê duyệt đề án triển khai đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số của Bắc Giang. Tỉnh miễn phí 100% cho tất cả cán bộ viên chức học thạc sĩ về công nghệ thông tin. Ngoài ra, tổ chức hội thảo về thực trạng, giải pháp phát triển nguồn lao động trong ngành công nghiệp bán dẫn tỉnh.
Hiện Bắc Giang đang tập trung xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn cho tỉnh giai đoạn 2024-2030; trong đó, xác định tập trung cao nhân lực đáp ứng phân đoạn kiểm thử và đóng gói. Tỉnh cũng sẽ tiếp tục hợp tác với các trường đại học, các doanh nghiệp bán dẫn tại Bắc Giang để đào tạo nhân lực cho ngành bán dẫn.
Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (HANOISME):
Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đối mặt với 5 khó khăn và theo đó, 52% doanh nghiệp cho biết đang bị thiếu đơn hàng, 32% doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, 25% phản ánh tình trạng thủ tục hành chính còn rườm rà…
Ngoài ra, có 41% doanh nghiệp chia sẻ là đang bị thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học công nghệ.
Để đón dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, theo tôi việc cần làm lúc này là tập trung khơi thông các điểm thiếu sót nêu trên, như đẩy mạnh mở rộng thị trường xuất khẩu để khơi thông các đơn hàng.
Cụ thể, doanh nghiệp đề xuất, khơi thông các nguồn vốn bằng cách giải quyết các vấn đề về trái phiếu, vốn ngân hàng, các nguồn vốn từ các quỹ.
Cùng với đó, rà soát, tháo gỡ các thủ tục hành chính còn rườm rà, có các biện pháp củng cố hơn nữa niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và giới đầu tư tư nhân cũng như khơi thông nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo đó, có chính sách liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp đào tạo theo chuyên đề, nhu cầu thị trường để doanh nghiệp có nguồn lao động chất lượng cao đáp ứng với tiêu chuẩn các tập đoàn nước ngoài.



