Chủ Nhật, Tháng 1 18, 2026

Tất cả thông tin về chương trình MBA

Học MBA online
Trang chủKỹ NăngChứng KhoánThị trường chứng khoán tháng 5 năm nay: "Sell in May and...

Thị trường chứng khoán tháng 5 năm nay: “Sell in May and go away” hay là “mùa đi săn của bầy sói”?

Mo tai khoan chung khoan Techcombank so dep tu chon

Thị trường chứng khoán tháng 5 năm nay: “Sell in May and go away” hay là “mùa đi săn của bầy sói”? Cùng theo dõi chi tiết bài viết dưới đây được tổng hợp và ghi lại từ đa góc nhìn dành cho một nhà đầu tư chuyên nghiệp hay đơn giản nếu bạn là một nhà đầu tư nghiệp dư, khi đọc qua cũng đủ hiểu nên làm gì trong những tháng tiếp theo.

Hiệu ứng tác động tâm lý

“Sell in May and Go Away” là một câu ngạn ngữ nổi tiếng trong giới tài chính thế giới.

Thuật ngữ “Sell in May and go away” là lời khuyên cho nhà đầu tư nên bán cổ phiếu vào tháng 5 và đi chơi rồi quay trở lại vào tháng 11. Hiệu ứng này đã có tác động rất mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư trong nước.

Nó có nguồn gốc từ giới tài chính phương Tây, đầy đủ là “Sell in May and Go away, and come on back on St. Leger’s Day”, ám chỉ nhà đầu tư nên bán toàn bộ danh mục vào tháng 5 rồi nghỉ ngơi và quay trở lại vào ngày lễ thánh Ledger, tức cuối tháng 9 hàng năm.

Sell in May and go away, hay mùa đi săn của bầy sói
Sell in May and go away, hay mùa đi săn của bầy sói

Ở các nước phương Tây, khoảng thời gian tháng 5 đến tháng 10 hàng năm thường xuyên diễn ra các lễ hội. Cùng với đó, các cuộc bầu cử thường diễn ra vào khoảng tháng 9 đến tháng 10, kéo theo nhiều bất ổn. Do vậy, việc đầu tư trong khoảng thời gian này thường kém hiệu quả.

Bên cạnh đó, khung thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường là mùa mua sắm ở các nước phương Tây, cụ thể là các dịp lễ Black Friday, Giáng Sinh hay lễ Phục Sinh.

Sau mùa mua sắm, tới tháng 4 hàng năm, là mùa công bố báo cáo kết quả kinh doanh. Các thông tin này thường khiến cổ phiếu tăng giá.

'Sell in May' là cơ hội hay rủi ro (?!): Những cứ liệu từ quá khứ ảnh 1

Với giả định đầu tư 10.000 USD và chỉ tham trong giai đoạn từ tháng 11 – 4 năm sau, kết quả cho thấy chỉ số tham chiếu có hiệu suất vượt trội so với các giai đoạn khác ở thị trường Mỹ.

Thị trường chứng khoán Mỹ sẽ bước vào tháng 5/2023 với một bối cảnh khá đặc biệt. Các nhà đầu tư vừa trải qua cuộc khủng hoảng trong ngành ngân hàng, cụ thể sự sụp đổ của Silicon Valley Bank (SVB) và First Republic Bank (FRB). Trong khi đó, nhà đầu tư cũng đang kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ bớt ‘diều hầu’ sau khi tăng lãi suất thêm 0,25% vào ngày 3/5/2023.

Hay là mùa đi săn của bầy sói!?

Tại thị trường Việt Nam, tiến hành kiểm định tăng trưởng của khoản đầu tư 10.000 USD theo chỉ số VN-Index trong khoảng thời gian từ năm 2008 tới nay.

Kết quả cho thấy, lợi suất đầu tư trong các tháng từ 5-10 hàng năm đang cho lợi nhuận vượt trội hơn so với giai đoạn từ tháng 11 – tháng 4 năm sau.

'Sell in May' là cơ hội hay rủi ro (?!): Những cứ liệu từ quá khứ ảnh 2

Theo phân tích của chúng tôi, với thị trường chứng khoán Việt Nam, các khoản đầu tư từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau vẫn luôn chiếm ưu thế tốt hơn so với giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10 ở hầu hết các năm từ năm 2000 đến nay. Chỉ duy nhất có 2 năm xu hướng này đảo ngược hoàn toàn, khi lợi suất chênh lệch rất lớn đó là năm 2007 và 2009.

Trong quá khứ, sau khi giảm điểm vào tháng 4, thị trường có xu hướng phục hồi vào tháng 5 (hoặc giảm thấp hơn), do đó, hoàn toàn có thể kỳ vọng vào hiệu ứng “Sell in May” sẽ xảy ra trong năm 2023.

Tuy nhiên, đây là giai đoạn bối cảnh vĩ mô quốc tế cũng như trong nước có rất nhiều yếu tố biến động, đặc biệt liên quan đến câu chuyện suy thoái kinh tế, hay các gói kích cầu hỗ trợ kinh tế của Chính phủ, cũng như của Ngân hàng Nhà nước.

Giai đoạn đó, tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng cung tiền M2 đâu đó khoảng 40%, nghĩa là một lượng tiền tương đối lớn được bơm ra nền kinh tế và đẩy vào thị trường chứng khoán, đã khiến cho giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10 của năm 2009 có sự tăng trưởng mạnh mẽ, vượt trội. Ngay sau đó, khi những hiệu ứng kết thúc dần dần, bong bóng về bất động sản, chứng khoán bắt đầu có sự đổ vỡ nhất định, thì ngay lập tức thị trường từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chứng kiến sự sụt giảm tương đối mạnh.

Nếu bỏ qua giai đoạn năm 2007, 2009 có đặc điểm đặc thù, thì hầu hết những năm còn lại, các giai đoạn tháng 5 đến tháng 10 đều có sự kém tích cực hơn. Nhìn vào con số thống kê cụ thể, từ năm 2000 – 2022, lãi suất bình quân mỗi nhà đầu tư đầu tư vào giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10 là 0,34%, trong khi đầu tư từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lãi suất là 1,03%.

Lưu ý, thanh khoản ở mức thấp sẽ là một biến số đối với thị trường. Bởi lẽ, nó thể hiện tâm lý thận trọng của nhà đầu tư vẫn đang chiếm ưu thế, đặc biệt là sau ‘mùa’ báo cáo tài chính quý 1 không mấy tích cực.

'Sell in May' là cơ hội hay rủi ro (?!): Những cứ liệu từ quá khứ ảnh 3

Điển hình là nhóm ngành bán lẻ. Lợi nhuận của 2 doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực này là CTCP Đầu tư Thế giới di động (Mã CK: MWG) và CTCP Bán lẻ Kỹ thuật số FPT (Mã CK: FRT) đều ghi nhận kết quả kinh doanh giảm mạnh, điều này chủ yếu tác động bởi sức tiêu dùng trong đầu năm 2023 thấp hơn dự kiến.

Trong nguy luôn có cơ

Tháng 5/2023 đã bắt đầu, đây cũng là thời điểm nhà đầu tư cần nhìn nhận đâu là yếu tố thuận lợi và rủi ro sẽ tác động đến thị trường chứng khoán, từ đó kết hợp với yếu tố “Sell in May and go away” để đưa ra các dự báo đối với thị trường từ góc độ vĩ mô và cơ bản.

Với thị trường chứng khoán Việt Nam, 80% đến từ giao dịch của nhà đầu tư cá nhân, nên tâm lý đóng một vai trò rất quan trọng. Nếu nhà đầu tư thường xuyên thấy các thông tin tiêu cực, họ sẽ có xu hướng bán ra nhiều hơn và khiến cho hiệu ứng này trở thành sự thật.

Về tổng hợp thị trường tuần 1-5/5/2023

Thị trường hàng hóa ngày 6/5: Một số mặt hàng như giá dầu, khí tự nhiên, đồng, cà phê và đường đồng loạt tăng, vàng quay đầu giảm.

  • Giá dầu tăng song có tuần giảm thứ 3 liên tiếp, sau khi giảm mạnh hồi đầu tuần bởi lãi suất cơ bản tăng và lo ngại cuộc khủng hoảng ngân hàng Mỹ sẽ khiến nền kinh tế chậm lại và nhu cầu nhiên liệu giảm. Tuy nhiên, dự kiến khả năng cắt giảm nguồn cung tại cuộc họp tới của nhóm các nhà sản xuất OPEC+ vào tháng 6/2023 sẽ hỗ trợ giá, Kelvin Wong, nhà phân tích thị trường cấp cao thuộc OANDA, Singapore cho biết. Ngoài ra, giá dầu còn được hỗ trợ bởi số lượng các giàn khoan dầu trong tuần này giảm 3 giàn xuống còn 588 giàn, công ty dịch vụ dầu Baker Hughes cho biết.
  • Giá vàng giảm, sau số liệu bảng lương của Mỹ cao hơn so với dự kiến, làm giảm bớt kỳ vọng cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Ngoài ra, giá vàng chịu áp lực giảm bởi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng sau số liệu việc làm được cải thiện, làm giảm sức hấp dẫn của vàng thỏi không lãi suất.
  • Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên và Singapore tiếp tục giảm, bởi lo ngại mới về cuộc khủng hoảng ngân hàng tại Mỹ và lo ngại nhu cầu suy giảm kéo dài, trong bối cảnh sản lượng tại một số nhà máy sản xuất thép Trung Quốc giảm.
  • Giá đường thô trên sàn ICE tăng 3%, do nguồn cung trong ngắn hạn thắt chặt.

Chi tiết: https://mbaz.net/thi-truong-hang-hoa-ngay-6-5-gia-dau-khi-tu-nhien-dong-ca-phe-va-duong-dong-loat-tang-vang-quay-dau-giam.html

Vĩ mô thế giới:

  • Tăng trưởng việc làm tháng 4 mạnh hơn dự báo, khả năng Fed sẽ tiếp tục nâng lãi suất.

Theo số liệu mới nhất của Bộ Lao động Mỹ, nước này đã tạo 253.000 việc làm mới trong tháng 4, cao hơn ước tính của các nhà phân tích và bất chấp thực tế là nền kinh tế đang chững lại.

Thu nhập trung bình hàng giờ tăng 0,5% so với tháng trước và cao hơn dự báo 0,3%. So với cùng kỳ năm trước, tiền lương của người lao động Mỹ đi lên 4,4%, cao hơn ước tính tăng 4,2%.

Báo cáo việc làm mới cũng được công bố ngay thời điểm nền kinh tế Mỹ dường như đang chững lại và có nguy cơ suy thoái vào cuối năm nay. GDP của Mỹ chỉ tăng 1,1% trong quý I.

Mặc những vấn đề của ngành ngân hàng và nỗi lo suy thoái, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong tuần này đã nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất kể từ tháng 8/2007. Hiện, lãi suất chuẩn đang nằm trong phạm vi 5 – 5,25%.

Tại cuộc họp báo sau cuộc họp chính sách, Chủ tịch Fed Jerome Powell thừa nhận lãi suất tăng cao đang gây áp lực cho các hộ gia đình, dù ông lưu ý rằng thị trường lao động vẫn mạnh mẽ.

Chủ tịch Powell còn cảnh báo rằng trong thời gian tới, nền kinh tế Mỹ “nhiều khả năng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn nữa khi các điều kiện tín dụng bị thắt chặt lại”. Báo cáo việc làm tháng 4 khả quan như vậy có thể buộc Fed phải tăng lãi suất lên cao hơn nữa.

Ngoài ra, Chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCEPI), thước đo ưa thích hơn của Fed, hiện cao hơn cùng kỳ năm 2022 khoảng 4,2%.

Vĩ mô trong nước:

  • OECD dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,5% trong năm 2023.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng vững chắc, với Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ở mức 6,5% vào năm 2023 và 6,6% trong năm 2024. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, Việt Nam dễ bị ảnh hưởng bởi những bất ổn địa chính trị và nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng.

  • Thời gian qua, trước những khó khăn của thị trường bất động sản, Chính phủ đã cùng các bộ, ngành, địa phương nhập cuộc để tìm giải pháp tháo gỡ.

Chiều 5/5, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã có cuộc họp giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện các dự án bất động sản và nhấn mạnh, nguyên nhân của tồn tại, vướng mắc trong các dự án bất động sản đã được nhận diện, đặc biệt vấn đề liên quan đến pháp lý.

“Đây là việc cấp bách, phải tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc để giải phóng nguồn lực từ các dự án bất động sản. Vướng ở cấp nào, cấp đó phải giải quyết, có thời hạn cụ thể và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nếu để chậm trễ, gây thiệt hại về kinh tế”- Phó Thủ tướng nhấn mạnh./

  • Thủ tướng: Lạm phát đang giảm dần, phấn đấu giảm lãi suất, ưu tiên hơn cho tăng trưởng.

Phát biểu tại cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 diễn ra ngày 5/5, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, trong bối cảnh lạm phát vẫn được kiểm soát trong mục tiêu Quốc hội giao và đang giảm dần qua các tháng, cần ưu tiên hơn cho tăng trưởng song vẫn nhất quán mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.

Điều hành hài hòa, cân bằng, hợp lý, hiệu quả giữa lãi suất và tỷ giá, giữa tăng trưởng và lạm phát, giữa cung và cầu, giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, giữa bên trong và bên ngoài.

“Hiện nay, lạm phát vẫn được kiểm soát trong mục tiêu Quốc hội giao và đang giảm dần, do đó, ưu tiên hơn cho tăng trưởng từ tháng 4, tháng 5 và những tháng tiếp theo”, Thủ tướng chỉ đạo.

Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chắc chắn, chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; trước mắt, tăng khả năng tiếp cận vốn cho sản xuất, kinh doanh và phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay với cả khoản vay mới và hiện hữu.

Về cầu, sớm có các giải pháp kích cầu tiêu dùng, phát triển mạnh thị trường trong nước; sớm có các giải pháp miễn giảm thuế, phí, lệ phí, hỗ trợ người lao động, người dân, khuyến mại, giảm giá; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, tạo thuận lợi thu hút vốn đầu tư tư nhân, tháo gỡ mọi rào cản, huy động hợp tác công tư, khơi thông mọi nguồn lực phát triển.

Về xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương mại, giữ vững các thị trường truyền thống, mở rộng các thị trường mới, đẩy mạnh đàm phán các FTA. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, chung tay xây dựng cơ sở hạ tầng; phong trào người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước và quản trị xã hội về lao động, môi trường, tạo thuận lợi cho các thị trường vốn, khoa học công nghệ, lao động, nâng cao năng suất lao động. Đẩy mạnh hợp tác công tư, lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư.

Thủ tướng yêu cầu tiếp tục tập trung rà soát, đôn đốc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra, nhất là rà soát, hoàn thiện thể chế; làm tốt công tác quy hoạch; giải ngân vốn đầu tư công, ba chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phục hồi và phát triển.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách tiền tệ chắc chắn, chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; theo dõi việc thực hiện các thông tư 02, 03, nếu có vấn đề nổi lên thì kịp thời giải quyết ngay; tiếp tục chỉ đạo tiết giảm chi phí, giảm lãi suất cho vay, tăng khả năng tiếp cận vốn, bảo đảm tăng trưởng tín dụng hợp lý, hướng vào các động lực tăng trưởng và lĩnh vực ưu tiên.

Đồng thời, tập trung xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém, bảo đảm thanh khoản, an toàn hệ thống, chú trọng xử lý nợ xấu; rà soát và có giải pháp phù hợp góp phần tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản; triển khai chương trình tín dụng 120 nghìn tỷ đồng cho phát triển nhà ở xã hội và 10 nghìn tỷ đồng cho doanh nghiệp gỗ, thủy sản.

Đặc biệt, cần khẩn trương trình cấp thẩm quyền phương án giảm 2% VAT; trình phương án đối với thuế tối thiểu toàn cầu; tiếp tục chuẩn bị phương án hỗ trợ bổ sung về miễn giảm thuế, phí, lệ phí; nghiên cứu, tính toán phương án giảm thuế trước bạ đối với ô tô; đề xuất xử lý bất cập, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán…

Chi tiết: https://mbaz.net/thu-tuong-lam-phat-dang-giam-dan-phan-dau-giam-lai-suat-uu-tien-hon-cho-tang-truong.html

  • Giá điện tăng 3% có thể khiến ngành thép, xi măng, hóa chất, giấy mất tới 15% lợi nhuận.

Điện đang chiếm khoảng 3,5% tổng cấu thành rổ tính CPI nên điện nếu tăng 3% thì làm trực tiếp CPI tăng 0,105%, còn tăng 5% thì CPI tăng 0,175%. Mirae Asset cho rằng việc tăng giá bán lẻ điện xét trên nhiều phương diện có thể gây ra ảnh hưởng không tích cực lên một số ngành sản xuất sử dụng nhiều điện như Xi măng, Hóa chất, Luyện kim (Thép), Giấy.

Cụ thể hơn, với giả định chi phí điện tăng thêm và doanh nghiệp không thể chuyển tiếp sang người tiêu dùng, Mirae Asset ước tính chi phí điện tăng 3% có thể khiến tổng lợi nhuận trước thuế của từng ngành có thể giảm tối đa tương ứng là: LNTT ngành Thép giảm 15%, LNTT ngành Giấy giảm 2%, LNTT ngành Xi Măng giảm 13%, LNTT ngành Hóa Chất giảm 1%.

Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy sự sụt giảm đáng kể của lợi nhuận khi chi phí điện tăng thêm làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Chi tiết: https://mbaz.net/gia-dien-tang-3-co-the-khien-nganh-thep-xi-mang-hoa-chat-giay-mat-toi-15-loi-nhuan.html

  • Tâm điểm vĩ mô: Chờ đợi thời điểm lãi suất huy động hạ nhiệt

Chuyên gia dự báo sẽ có thêm đợt hạ lãi suất điều hành nữa vào quý III năm nay, qua đó tác động đến lãi suất huy động của các ngân hàng, tuy nhiên lãi suất cho vay doanh nghiệp sẽ giảm chậm hơn.

Tình hình sản xuất vẫn đang trong giai đoạn khó khăn. Tổng cục Thống kê vừa công bố báo cáo kinh tế xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm. Số liệu cho thấy xuất, nhập khẩu vẫn tiếp tục giảm mạnh.

Do đó, điều hành chính sách tiền tệ, lạm phát Mỹ hạ nhiệt, thị trường hiện kỳ vọng Fed có thể dừng tăng lãi suất sau cuộc họp hôm 2 – 3/5 và bắt đầu giảm lãi suất sớm nhất là vào nửa cuối năm 2023 do gia tăng nguy cơ kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái. Với Việt Nam, dự báo NHNN sẽ tiếp tục hạ lãi suất điều hành  trong nửa cuối năm nay.

Trong trường hợp Fed bắt đầu cắt giảm lãi suất điều hành trong nửa sau năm 2023, áp lực tỷ giá và lãi suất trong nước tiếp tục hạ nhiệt, NHNN có thể cân nhắc giảm thêm lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn, trần lãi suất huy động kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng thêm 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2023, có thể trong quý III/2023.

  • Cũng theo VinaCapital: Lãi suất huy động 12 tháng sẽ giảm xuống khoảng 6%, dự báo NHNN sẽ mua 25 tỷ USD dự trữ ngoại hối.

VinaCapital tin rằng mức trung bình của lãi suất huy động 12 tháng giảm 200 điểm cơ bản so với lãi suất của đầu năm nay (xuống khoảng 6%) để thúc đẩy thị trường bất động sản Việt Nam phục hồi và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.

  • Cùng với đó là hàng loạt các chính sách và thông tư gần đây của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã và đang tiếp tục cho thấy những động thái nới lỏng hơn cho nền kinh tế.

Hai thông tư mới của NHNN cho phép ngân hàng thương mại cơ cấu nợ và giãn nợ cho doanh nghiệp, từ đó nới lỏng thời gian và tạo điều kiện cho nhóm ngành ngân hàng cũng như bất động sản, chứng khoán.

Bên cạnh đó, liên tục là các đề xuất từ chính phủ chỉ đạo gỡ vướng cho các doanh nghiệp bất động sản khác, cùng với Nghị định số 12/2023/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2023, bất động sản cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực hơn.

Ngoài ra, để đối mặt với sức mua giảm trong nước, ngày 17/04 vừa qua Chính phủ cũng đồng ý với đề xuất giảm thuế giá trị gia tăng từ mức 10% xuống mức 8% đến hết năm 2023 với tiêu chí kích cầu nội địa và giảm bớt đi những khó khăn cho ngành bán lẻ.

  • Thị trường chứng khoán Việt Nam kì vọng phục hồi

VN-Index giảm điểm, song thanh khoản trên HOSE phục hồi mạnh trong tháng 4.

So với hồi đầu năm các chỉ số chứng khoán vẫn duy trì tăng trưởng dương; đồng thời thanh khoản có phần cải thiện hơn so với tháng trước đó.

Theo thống kê của HOSE, thanh khoản thị trường trong tháng 4/2023 tăng trưởng với khối lượng và giá trị giao dịch bình quân phiên lần lượt đạt hơn 641,1 triệu cổ phiếu và 11.121 tỷ đồng, tương ứng tăng lần lượt 24,63% về khối lượng bình quân và 21,36% về giá trị bình quân so với tháng 3/2023

Về dòng tiền khối ngoại, thống kê của HOSE cho thấy, tổng giá trị giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trong tháng đạt trên 36.368  tỷ đồng, chiếm hơn 8,17% tổng giá trị giao dịch cả chiều mua và bán của toàn thị trường. Nhà đầu tư nước ngoài đã thực hiện bán ròng trong tháng với giá trị hơn 2.529 tỷ đồng.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, bức tranh kết quả kinh doanh quý I kém tích cực có thể đã được phản ánh hầu hết trong đợt điều chỉnh vừa qua. Trong thời gian tới, thị trường chứng khoán được kỳ vọng sẽ bớt ảm đảm hơn khi một loạt chính sách hỗ trợ mới ban hành gần đây như giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ, giảm thuế giá trị gia tăng, thúc đẩy đầu tư công…

Tổng hòa các yếu tố như vậy thì kịch bản tháng 5 nói riêng và cho cả năm 2023 có khả năng cao sẽ là kịch bản tích cực với động lực đến từ kỳ vọng điểm đảo chiều của chính sách thông qua việc nới lỏng nền kinh tế thời gian gần đây, song rủi ro giảm điểm vẫn còn tồn đọng với những e ngại về rủi ro suy thoái kinh tế toàn cầu.

Điểm rơi của thị trường ở điểm nào thì câu chuyện tháng 5 vẫn đang tồn tại nhiều rủi ro cũng như cơ hội và chúng tôi cho rằng, tháng 5, tháng 6, hoặc tháng 7, nếu xuất hiện một nhịp điều chỉnh đủ sâu, sẽ hoàn toàn là cơ hội để nhà đầu tư có thể mua vào, gia tăng tỷ trọng và kỳ vọng vào đợt hồi phục của thị trường trong giai đoạn cuối năm. Đó là thời điểm những yếu tố thuận lợi về mặt vĩ mô quốc tế và trong nước sẽ phản ánh vào diễn biến của thị trường chứng khoán.

Tuy hiệu ứng Sell in May and go away hàm ý là nhà đầu tư không nên nắm giữ cổ phiếu từ tháng 5 đến tháng 10, nhưng nếu đợi đến tháng 11 mới mua thì nhiều khả năng nhà đầu tư sẽ bỏ lỡ một nhịp hồi phục. Dựa vào các yếu tố rủi ro như đã phân tích ở trên, thì có lẽ vùng rủi ro nhất của thị trường tập trung đâu đó vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 7 năm nay.

Đối với những nhà đầu tư có tỷ trọng tiền mặt lớn. Việc thị trường giảm điểm trong tháng 5/2023 có thể mở ra cơ hội để tham gia tăng tỷ trọng cổ phiếu.

Lời khuyên của chúng tôi: Nhà đầu tư hãy tìm hiểu cổ phiếu/ doanh nghiệp được Vĩ mô ủng hộ + Ngành được hưởng lợi + Quản trị vốn và tham gia với tỉ trọng vừa đủ vào những thời điểm cổ phiếu có giá tốt. Chắc chắn, bạn sẽ được hưởng thành quả xứng đáng.


Mọi thông tin cần hỗ trợ về Tư vấn đầu tư, Quản lý tài sản, Ủy quyền đầu tư và các nghiệp vụ chứng khoán khác, Quý khách vui lòng liên hệ:

Công ty Chứng khoán Phú Hưng Securities

Tầng 5, Tòa nhà Vinafor, Số 127 Lò Đúc, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam.

Tổng hợp & chia sẻ bởi: #SóiGiàChứngKhoán

Chương trình ưu đãi đặc biệt: Mở tài khoản chứng khoán Techcombank Securities với Cố vấn đầu tư cao cấp, quản lý tài sản và ủy quyền đầu tư. Chi tiết liên hệ Hotline/ Zalo/ Telegram: 0905 889 188Mo tai khoan chung khoan Techcombank so dep tu chon
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

1 BÌNH LUẬN

  1. Trước hết, lý giải về việc vì sao lại tồn tại “Sell in May and go away” ở thị trường chứng khoán Việt Nam, trong có có nguyên nhân điển hình như:

    Thứ nhất, xuất phát từ yếu tố vĩ mô, bối cảnh kinh tế của Việt Nam, tăng trưởng GDP cũng như các hoạt động kinh tế thường có sự sôi động hơn trong 2 quý cuối năm, đặc biệt là quý 3, quý 4. Bên cạnh đó, những thông tin về chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa cũng thường tập trung vào quý 4 hoặc sớm hơn một chút là quý 3, giúp thúc đẩy mạnh cho nền kinh tế. Vì vậy, vĩ mô tương đối trầm lắng về mặt thông tin khiến cho thị trường giai đoạn tháng 5 đến tháng 10 kém tích cực hơn so với phần còn lại của năm.

    Thứ hai, đi sâu vào từng nhóm ngành, từng doanh nghiệp, cũng sẽ có câu chuyện mang tính chất đồng pha tương tự, khi các báo cáo kết quả kinh doanh quý 1 của các doanh nghiệp thuộc những nhóm ngành dẫn dắt như ngân hàng, bất động sản, vật liệu xây dựng, hoặc các nhóm ngành công nghiệp, xuất nhập khẩu đều không mấy khả quan. Thông thường, các điểm rơi lợi nhuận và kết quả kinh doanh của các nhóm doanh nghiệp này sẽ vào những quý cuối cùng của năm.

    Thứ ba, là yếu tố dòng tiền, giai đoạn cuối quý 3 và quý 4, đầu tư công sẽ được đẩy mạnh, nguồn tiền từ ngân sách được bơm ra nền kinh tế, kết hợp với việc tăng trưởng tín dụng sẽ tập trung cao điểm vào tháng cuối năm.

    Cùng với đó, các hoạt động kinh tế, tăng trưởng, hoạt động của các doanh nghiệp luân chuyển vòng quay tiền sẽ diễn ra nhanh hơn, vì vậy kênh có tính chất đầu cơ như bất động sản hay kể cả chứng khoán, dòng tiền cũng có xu hướng tìm đến. Đây là nguyên nhân khiến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bất động sản tích cực vào thời điểm cuối năm. Yếu tố này giúp diễn biến thị trường những tháng cuối năm tương đối tích cực và hiệu ứng sẽ còn kéo dài cho đến đầu quý 1 năm sau. Vì vậy, giai đoạn từ tháng 5 trở đi, dòng tiền khá là yếu so với những tháng còn lại của năm.

    Thứ tư, thị trường chứng khoán Việt Nam có sự tương quan rất cao đối với thị trường chứng khoán Mỹ. Cụ thể, chỉ số VN-Index trong suốt 23 năm qua luôn tương quan và đi đồng pha với chỉ số Dow Jones trong từng khoản mục nhỏ lẫn thời gian dài hạn. Theo thống kê, chỉ số Dow Jones và S&P 500 đã có sự biến động rất rõ ràng giữa hai giai đoạn tháng 11 đến tháng 4 so với tháng 5 đến tháng 10 và VN-Index cũng đã có sự đồng pha nhất định.

    Thứ năm, còn có yếu tố “lời tiên tri tự ứng nghiệm”. Thực tế, khi bước vào tháng 4 hằng năm, các kênh thông tin thường nhắc nhiều đến hiệu ứng Sell in May and go away. Với thị trường chứng khoán Việt Nam, 80% đến từ giao dịch của nhà đầu tư cá nhân, nên tâm lý đóng một vai trò rất quan trọng. Nếu nhà đầu tư thường xuyên thấy các thông tin tiêu cực, họ sẽ có xu hướng bán ra nhiều hơn và khiến cho hiệu ứng này trở thành sự thật.

    Kỳ vọng gì thị trường tháng 5?

    Trong năm 2023, có một số yếu tố chúng tôi cho rằng rủi ro đó là: Thứ nhất, kết quả kinh doanh quý 1 của các doanh nghiệp trên sàn đang được dự báo mang tính chất không tích cực, thậm chí yếu kém. Bức tranh này tương đồng với bức tranh tăng trưởng vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam quý 1/2023 đã công bố số liệu. Kết quả kinh doanh quý 1 tiêu cực ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp trên sàn kém đi, từ đó tác động trực tiếp đến VN-Index.

    Thứ hai, chúng ta chuẩn bị bước vào giai đoạn đỉnh điểm của câu chuyện mà rất nhiều nhà đầu tư và người dân quan tâm, theo dõi, đó là trái phiếu doanh nghiệp. Từ tháng 6 đến tháng 9 là bốn tháng đỉnh điểm của việc đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp. Liệu khả năng những doanh nghiệp bất động sản, hay những doanh nghiệp khác trong ngành có đủ khả năng trả nợ, trả gốc và lãi hay không, thì chúng ta còn cần chờ đợi những diễn biến tiếp theo, nhưng theo chúng tôi đánh giá, đây là một rủi ro tiềm tàng với nhà đầu tư.

    Thứ ba, là những sự kiện bất ngờ có thể xảy đến. Vừa qua, tất cả các thông tin, sự kiện mà chúng ta đã từng trải qua trong năm 2022, từ quốc tế đến Việt Nam như sự kiện Vạn Thịnh Phát, SVB sụp đổ hay sự cố ở Credit Suise cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số VN-Index, gây rủi ro cho nhà đầu tư khi đầu tư vào tháng 5 đến tháng 10.

    Cũng phải nhìn nhận, trên đây là những yếu tố rủi ro mang tính chất ngắn hạn, KBSV vẫn bảo lưu quan điểm tích cực đối với thị trường xuyên suốt cả năm 2023. Trong đó, những yếu tố mà chúng ta có thể kỳ vọng đó là: Một, mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế đang có xu hướng giảm tương đối rõ nét từ đầu năm đến nay và kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm trong phần còn lại của năm.

    Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỷ giá đang hạ nhiệt, Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước có động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi GDP quý 1 tương đối thấp.

    Hai, bản thân môi trường lãi suất bên ngoài, như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất, có thể là vào tháng 7, hoặc tháng 9. Nếu Fed đảo chiều hạ lãi suất, theo sau đó, các ngân hàng trung ương có thể tiếp bước như ngân hàng trung ương châu Âu (ECB), đây là yếu tố quan trọng hỗ trợ thị trường chứng khoán toàn cầu, cũng như thị trường chứng khoán Việt Nam

    Ba, là dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế Việt Nam sẽ rõ nét hơn trong quý 3 và quý 4 khi Chính phủ đã có nhiều động thái hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kết hợp với các điều kiện về lãi suất hạ ở cả bên trong và bên ngoài.

    Tổng hòa các yếu tố như vậy thì năm 2023 nhìn chung khá tích cực. Song, điểm rơi của thị trường ở điểm nào thì câu chuyện tháng 5 vẫn đang tồn tại nhiều rủi ro và chúng tôi cho rằng, tháng 5, tháng 6, hoặc tháng 7, nếu xuất hiện một nhịp điều chỉnh đủ sâu, sẽ hoàn toàn là cơ hội để nhà đầu tư có thể mua vào, gia tăng tỷ trọng và kỳ vọng vào đợt hồi phục của thị trường trong giai đoạn cuối năm. Đó là thời điểm những yếu tố thuận lợi về mặt vĩ mô quốc tế và trong nước sẽ phản ánh vào diễn biến của thị trường chứng khoán.

    Tuy hiệu ứng Sell in May and go away hàm ý là nhà đầu tư không nên nắm giữ cổ phiếu từ tháng 5 đến tháng 10, nhưng nếu đợi đến tháng 11 mới mua thì nhiều khả năng nhà đầu tư sẽ bỏ lỡ một nhịp hồi phục. Dựa vào các yếu tố rủi ro như đã phân tích ở trên, thì có lẽ vùng rủi ro nhất của thị trường tập trung đâu đó vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 7 năm nay.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin mới nhất