MBAz Club

Forum Navigation
Please to create posts and topics.

Trọn bộ phương Pháp Wyckoff

Phương Pháp Wyckoff từ A đến Z

Bài 1: Tổng quan về phương pháp Wyckoff

Phương pháp Wyckoff được phát triển bởi Richard Wyckoff vào đầu những năm 1930. Phương pháp này bao gồm một loạt các nguyên tắc và chiến lược ban đầu được thiết kế cho giới giao dịch và các nhà đầu tư. Wyckoff đã dành nhiều nặm để giảng dạy và các công trình của ông có ảnh hưởng lớn đến các lý thuyết phân tích kỹ thuật (TA) hiện đại.

Chúng ta có mối liên hệ chặt chẽ giữa WyckoffSupply Demand là quy luật cung cầu. Hai phương pháp này đều có những điểm mạnh, chúng ta cùng học các tổng quan ở MBAz và nghiên cứu các đầu mục của phương pháp Wyckoff nhé!

Phương pháp Wyckoff về chuyên sâu

wyckoff simple amd

Phần 1 - Thị trường di chuyển như thế nào

Chương 1 - Sóng

Chương 2 - Chu kỳ giá

Chương 3- Xu hướng

Chương 4 - Đánh giá xu hướng

Chương 5 - Phạm vi giao dịch

Phần 2 - Phương pháp Wyckoff

Chương 6 - Các cấu trúc của phương pháp Wyckoff

Phần 3 - Ba quy luật cơ bản

Chương 7 - Quy luật cung và cầu

Chương 8 - Quy luật Nhân quả

Chương 9 - Quy luật Nỗ lực và Kết quả

Phần 4 - Các quá trình tích lũy và phân phối

Chương 10 - Tích lũy

Chương 11 - Tích lũy lại

Chương 12 - Phân phối

Chương 13 - Phân phối lại

Phần 5 - Sự kiện

Chương 14 - Sự kiện số 1: Điểm dừng sơ bộ

Chương 15 - Sự kiện số 2: Cao trào

Chương 16 - Sự kiện 3: Phản ứng

Chương 17 - Sự kiện 4: Kiểm tra

Chương 18 - Sự kiện 5: Rung lắc

Chương 19 - Sự kiện 6: Đột phá

Chương 20 - Sự kiện 7: Xác nhận

Phần 6 - Các giai đoạn

Chương 21 - Giai đoạn A: Dừng xu hướng trước đó

Chương 22 - Giai đoạn B: Xây dựng nguyên nhân

Chương 23 - Giai đoạn C: Kiểm tra

Chương 25 - Giai đoạn E: Xu hướng ngoài phạm vi

Phần 7 - Giao dịch

Chương 26 - Các vị trí chính

Chương 27 - Ra quyết định

Chúng ta sẽ phân tích để bắt được điểm vào lệnh theo phương pháp Wyckoff trong bài dưới nhé.

Bài 2: Các giai đoạn thị trường trong phương pháp Wyckoff

Nhận thức được rằng thực tế không thể có hai cấu trúc giống nhau, cách tiếp cận giao dịch do phương pháp Wyckoff đề xuất là linh hoạt khi phân tích thị trường. Giá có thể tạo nên các loại cấu trúc khác nhau tùy thuộc vào điều kiện mà nó đc hình thành. Đây là lý do tại sao chúng ta cần một cách tiếp cận linh hoạt cho các biến động giá nhưng đồng thời chịu sự chi phối của các yếu tố cố định nhằm mang lại tính khách quan nhất cho việc đọc biểu đồ.

Các khía cạnh cố định này của phương pháp Wyckoff là các sự kiện và các giai đoạn tạo nên sự phát triển của giai đoạn. Dưới đây, chúng ta trình bày hai sơ đồ cơ bản về tích lũy và phân phối để đưa ra một ý tưởng chung về động lực mà giá di chuyển theo phương pháp Wyckoff.

Như chúng ta vừa đề cập đến những đề án này có thể được coi là lý tưởng. Điều quan trọng cần ghi nhớ là không phải lúc nào thị trường cũng thể hiện theo cách này.

image

Sơ đồ tích lũy cơ bản # 1(Basic scheme of accumulation #1)

Tích lũy (Accumulation). Quá trình mà các CO hấp thụ lượng hàng có sẵn trên thị trường. Đây là sự chuyển giao từ các nhà đầu tư bán lẻ hoặc "tay yếu" sang các nhà giao dịch chuyên nghiệp lớn hoặc "tay mạnh".

Lạch nhỏ (Creek). Mức hỗ trợ đối với các cấu trúc tích lũy hoặc tái tích lũy. Nó được tạo ra bởi (AR) tự động và là cạnh trên của TR trong Giai đoạn B.

CHoCH. (change of character) Thay đổi đặc tính trang thái. Thay đổi nhân vật. Nó chỉ ra nơi mà giá sẽ sớm thay đổi di chuyển.

Đầu tiên CHoCH là được thiết lập trong Giai đoạn A, nơi giá chuyển từ xu hướng giảm sang không rõ xu hướng (đi ngang).

Thư hai CHoCH cạnh dưới của TR trong giai đoạn C đến mức cạnh trên của SOS trong đó giá đi ngang chuyển sang xu hướng tăng.

Giai đoạn A. Dừng xu hướng giảm trước đó.

PS (prelimitary Support). Hỗ trợ sơ bộ. Đó là nỗ lực đầu tiên để ngăn xu hướng giảm.

SC (Selling Climax). Quá bán Climax. Hành động ngăn chặn chuyển động đi xuống.

AR (Automatic Rally). Tự động tập hợp. Phản ứng tăng giá. Một chuyển động hướng lên

ST (Secondary Test). Kiểm tra phụ. Kiểm tra mức độ hỗ trợ trong vùng tích lũy. Thiết lập phần cuối của giai đoạn A và đầu của giai đoạn B.

Giai đoạn B. Xây dựng nguyên nhân.

UA (Upthrust Action). Hành động tin cậy. Sự bứt phá tạm thời qua kháng cự và quay lại Range. Đây là thử nghiệm do AR tạo ra.

ST như SOW (Secondary Test as Sign of Weakness). Kiểm tra phụ như là dấu hiệu của tín hiệu yếu. tín hiệu yếu như chức năng kiểm tra. Tạm thời phá vỡ hỗ trợ và quay trở lại Range. Đây là một sự kiểm tra ở cạnh dưới do SC tạo ra.

Giai đoạn C. Kiểm tra (Test)

SP (Spring). Đây là một sự kiểm tra dưới dạng phá vỡ tới mức thấp hoặc vượt qua mức thấp nhất của Giai đoạn A và B. Có ba loại spring khác nhau.

Test spring. Xu hướng giảm về mức thấp nhất của Range để kiểm tra lực của người bán.

LPS (Last Point of Support). Điểm hỗ trợ cuối cùng. Kiểm tra dưới dạng một chuyển động giảm giá không đạt tới mức thấp nhất.

TSO. (Terminal Shakeout hoặc Shakeout). Giá di chuyển đột ngột breakout tạo ra sự giảm sâu qua hỗ trợ và phục hồi nhanh chóng vào lại Range.

Giai đoạn D. Xu hướng Bullish tăng giá

SOS (Sign of Strength). Tín hiệu mạnh. Đó là một chuyển động tăng giá được tạo ra sau sự kiện kiểm tra trong giai đoạn C của TR.

JAC (Jump Across the Creek) Nhảy qua lạch nhỏ

LPS (Last Point of Support). Điểm hỗ trợ cuối cùng. Đây là những đáy tăng dần

BU (Back Up). Sao lưu. Đây là phản ứng (tích lũy lại, test) cuối cùng trước khi thị trường tăng giá bắt đầu.

BUEC (Back Up to the Edge of the Creek). Quay lại cạnh Creek. Trở lại con lạch.

Giai đoạn E. Xu hướng tăng phá vỡ giai đoạn. Sự thành công của SOS và LPS tạo ra một động lực giá

image(1)

Sơ đồ tích lũy cơ bản # 2.

Dạng sơ đồ thứ hai của phương pháp này là Spring điểm thử nghiệm trong giai đoạn C không bị phá vỡ ra khỏi TR. Do điều kiện thị trường và biểu thị sức mạnh nền.

Mục tiêu của giá là thăm dò vùng thanh khoản này nhưng các CO hỗ trợ thị trường mua vào mạnh mẽ. Họ không để giá thấp hơn nữa để không ai khác có thể mua thấp hơn nữa.

Loại phạm vi giao dịch này phức tạp hơn vì không thể đánh giá hành động Shakeout đó, cách xác định tăng giá sẽ mất một điểm tin cậy.

Khu vực giao dịch là ở Spring tiềm năng, sau đó có thể mua tại LPS có thể giá sẽ đi suống điểm tối thiểu đó một lần nữa

Ngoài ra, dấu hiệu đầu tiên của sức mạnh tăng giá tại điểm phá vỡ thường bị mất (kiệt sức).

Do đó, cơ hội mua cp khả thi nhất trong loại cấu trúc này có thể tại BUEC. Đây là lúc chúng ta phải chú ý hơn để tìm kiếm cơ hội.

image(2)

Sơ đồ phân phối cơ bản # 1

Phân phối (Distribution). Quá trình CO phân phối (bán) cổ phiếu. Đây là sự chuyển giao từ các nhà đầu tư lớn hoặc "tay to" sang các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá nhân hoặc "tay yếu".

ICE. (Level of support for distribution or redistribution structures) Mức độ hỗ trợ của quá trình phân phối hoặc tái phân phối. Nó được thiết lập bởi mức tối thiểu được tạo ra bởi phản ứng tự động AR và mức thấp trong Giai đoạn B.

CHoCH. Thay đổi đặc tính. Nó chỉ ra TT mà giá sẽ di chuyển. Đầu tiên CHoCH được thiết lập trong giai đoạn A nơi giá chuyển từ môi trường có xu hướng tăng sang môi trường đi ngang. CHoCH thư hai được đặt từ mức cao nhất của Giai đoạn C đến mức thấp nhất của SOW trong đó giá chuyển từ đi ngang sang có xu hướng giảm

Giai đoạn A. Dừng xu hướng trước đó.

PSY (Preliminary Supply). Hỗ trợ sơ bộ. Đó là nỗ lực đầu tiên để ngăn sự tang giá.

BC (Buying Climax). Hành động ngăn sự tăng giá và chuyển động giá đi suống (quá mua).

AR (Automatic Reaction). Phản ứng tự động. ngăn sự giảm giá.

ST (Secondary Test). Kiểm tra phụ. Kiểm tra mức độ nhu cầu liên quan đến hành động mua thiết lập phần cuối của Giai đoạn A và đầu của Giai đoạn B.

Giai đoạn B. Xây dựng nguyên nhân.

UT(Upthrust). Độ tin cậy. Sự kiện tương tự như UA ở giai đoạn tích lũy. Sự bứt phá tạm thời qua ngưỡng kháng cự và quay lại TR. Đây là một bài kiểm tra ở mức tối đa được tạo ra bởi BC.

MSOW (Minor Sign of Weakness)Dấu hiệu yếu. Sự kiện tương tự như ST và SOW của tích lũy. Tạm thời phá vỡ hỗ trợ và quay lại TR. Đây là sự kiểm tra ở mức tối thiểu do AR tạo ra.

Giai đoạn C: Kiểm tra.

UTAD(Upthrust After Distribution). Đây là một sự kiểm tra dưới dạng phá vỡ các điểm tối đa của giai đoạn A và B.

Test UTAD. Một chuyển động đi lên để kiểm tra mức độ của người mua.

Giai đoạn D. Xu hướng giảm giá trong TR

MSOW. Dấu hiệu điểm yếu chính. Chuyển động giảm giá bắt nguồn sau sự kiện kiểm tra giai đoạn C đển điểm thấp của TR tạo ra sự thay đổi thuộc tính

LPSY (Last Point of Supply). Điểm hỗ trợ cuối cùng. Đây là những mức cao giảm dần mà chúng ta tìm thấy trong xu hướng giảm dần về hỗ trợ.

Giai đoạn E. Xu hướng giảm ngoài TR. Sự tiếp diễn của SOW và LPSY tạo ra động lực giảm dần mức tối đa và mức tối thiểu.

image(3)

Sơ đồ cơ bản của phân phối # 2

Phương pháp thứ hai trong đó sự kiện kiểm tra trong giai đoạn C không đạt được mức tối đa của TR

Suy luận ngược so với ví dụ về lược đồ tích lũy # 2. Thể hiện một tín hiệu yếu hơn trong nền.

Giá đạt được tính thanh khoản tối đa, các nhà giao dịch lớn (CO) đã có vị thế bán,

Cấu trúc mất sự tin cậy do không có rung lắc. Khi bán khống LPSY có thể xảy ra, chúng ta sẽ luôn nghi ngờ về việc liệu giá có lên mức cao trước khi giảm hay không.

Dấu hiệu của điểm yếu (SOW) phá vỡ TR. Cơ hội duy nhất để kiểm tra điểm phá vỡ (LPSY).

Bài 3 : Giai đoạn tích luỹ - Accumulation : Hướng dẫn xác định các Phase

Sơ đồ giai đoạn tích lũy và giai đoạn phân phối có lẽ là các kết quả phổ biến nhất trong các công trình của Wyckoff

Các giai đoạn tích luỹ (Accumulation Phase) theo Phương pháp Wyckoff

Giai đoạn A

Lực bán ra giảm, và xu hướng giảm giá của thị trường bắt đầu chậm lại. Giai đoạn này thường được đánh dấu bằng sự gia tăng khối lượng giao dịch. Hỗ trợ sơ bộ (Preliminary Support) chỉ ra rằng thị trường xuất hiện một số lượng người mua, nhưng vẫn không đủ để ngăn chặn thị trường đi xuống.

Đỉnh bán (Selling Climax-SC) được hình thành bởi một hoạt động bán mạnh mẽ khi các nhà đầu tư bỏ cuộc. Đây thường là một điểm có độ biến động cao, trong đó việc bán ra do hoảng loạn tạo ra một thị trường dưới dạng đồ thị hình nến và bấc lớn. Thị trường nhanh chóng đi lên, hoặc Hồi phục tự động (Automatic Rally-AR), do cầu nhanh chóng theo kịp cung. Nói chung, phạm vi giao dịch (TR) của Sơ đồ giai đoạn tích lũy được xác định bởi khoảng cách giữa đáy là điểm SC và đỉnh là điểm AR.

Như có thể thấy từ tên gọi của nó, Thử nghiệm thứ cấp (Secondary Test-ST) xảy ra khi thị trường giảm xuống gần khu vực SC để thử nghiệm liệu xu hướng giảm giá đã thực sự kết thúc hay chưa. Tại thời điểm này, khối lượng giao dịch và biến động thị trường không lớn. Mặc dù ST thường tạo điểm đáy ở mức thấp hơn so với SC, nhưng điều này không phải luôn luôn như vậy.

Giai đoạn B

Dựa trên Luật nguyên nhân và hệ quả của Wyckoff, Giai đoạn B có thể được coi là Nguyên nhân dẫn đến Hệ quả.

Về cơ bản, Giai đoạn B là giai đoạn hợp nhất, trong đó Người vận hành đằng sau tích lũy một số lượng tài sản lớn nhất. Trong giai đoạn này, thị trường có xu hướng thử nghiệm cả mức cầm cự và mức hỗ trợ của phạm vi giao dịch.

Có thể có nhiều  Thử nghiệm thứ cấp (ST) trong Giai đoạn B. Trong một số trường hợp, chúng có thể tạo ra các đỉnh cao hơn (bẫy tăng giá) và đáy thấp hơn (bẫy giảm giá) so với các điểm SC và AR của Giai đoạn A.

Giai đoạn C

Một giai đoạn tích lũy C điển hình bao gồm một điểm được gọi là Nhảy vọt (spring). Đây thường là cái bẫy cuối cùng trước khi thị trường bắt đầu đạt đến các đáy ở mức cao hơn. Trong Giai đoạn C, người vận hành đằng sau đảm bảo rằng thị trường còn rất ít nguồn cung, tức là những nhà đầu tư nếu nắm giữ các tài sản đã bán ra.

Điểm nhảy vọt này thường phá vỡ các mức hỗ trợ để ngăn chặn các nhà giao dịch và đánh lừa nhà đầu tư. Đây có thể là một nỗ lực cuối cùng để mua cổ phiếu ở mức giá thấp hơn trước khi thị trường tăng giá trở lại. Đây là bẫy giảm giá để các nhà đầu tư bán lẻ bán ra các cổ phiếu của mình.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các mức hỗ trợ vẫn có hiệu quả và điểm nhảy vọt đơn giản là không xảy ra. Nói cách khác, có thể có các Sơ đồ tích lũy bao gồm tất cả các yếu tố khác nhưng không có điểm Nhảy vọt.Tuy nhiên, sơ đồ tổng thể vẫn tiếp tục có hiệu lực.

Giai đoạn D

Giai đoạn D thể hiện quá trình chuyển tiếp từ Nguyên nhân sang Hệ quả. Nó nằm giữa vùng tích lũy (Giai đoạn C) và sự phá vỡ phạm vi giao dịch (Giai đoạn E).

Thông thường, trong Giai đoạn D, thị trường có khối lượng giao dịch và biến động lớn. Nó thường có Sự hỗ trợ điểm gần nhất ((Last Point Support (LPS)), khiến thị trường giảm sâu hơn hơn trước khi tăng giá. LPS thường xuất hiện trước khi xảy ra sự phá vỡ các mức kháng cự, từ đó khiến thị trường đạt đến các mức giá cao hơn. Điều này cho thấy Các dấu hiệu sức mạnh ((Signs of Strength (SOS), khi các mức kháng cự trước đó trở trước trở thành các mức hỗ trợ hoàn toàn mới.

Có thể có nhiều hơn một hỗ trợ điểm gần nhất (LPS) trong Giai đoạn D. Ở giai đoạn này khối lượng giao dịch thường tăng lên trong khi thử nghiệm các dòng hỗ trợ mới. Trong một số trường hợp, giá có thể tạo ra một vùng hợp nhất nhỏ trước khi có thể phá vỡ phạm vi giao dịch lớn hơn và chuyển sang Giai đoạn E.

Giai đoạn E

Giai đoạn E là giai đoạn cuối cùng của Sơ đồ giai đoạn tích lũy. Nó được đánh dấu bởi sự thoát ra rõ ràng khỏi phạm vi giao dịch do nhu cầu thị trường tăng. Đây là khi phạm vi giao dịch bị phá vỡ một cách hiệu quả và thị trường bắt đầu tăng giá.

wyckoff2(2)

1. Mẫu hình Wyckoff - Tích luỹ số 1

image(10)

✅ Mẫu hình số 1 là mẫu hình cơ bản , được biết đến nhiều nhất khi tìm hiểu phương pháp Wyckoff.

✅ Trong mẫu hình này bao gồm đầy đủ các sự kiện tiêu chuẩn của một giai đoạn tích lũy.

✅ Sự xuất hiện của Sping đánh dấu dự thay đổi tính chất thị trường (CHOCH).

✅ Spring được xác nhận khi giá tạo cấu trúc tăng sau đó đồng thời sự kiện SOS xuất hiện và được xác nhận.

2. Mẫu hình Wyckoff - Tích luỹ số 2

image(9)

✅ Mẫu hình số 2 là mẫu hình cơ bản, thường xuyên xuất hiện trên thị trường.

✅ Trong mẫu hình này không có sự xuất hiện của Sping.

✅ Sự mạnh lên của phe Mua được đánh dấu bằng nỗ lực thất bại quay trở lại biên dưới của Trading Range (*).

✅ Thông thường tại vị trí (*) sẽ xuất hiện dấu hiệu hấp thụ cung , và một giai đoạn tích lũy trong khung thời gian nhỏ hơn.

3. Mẫu hình Wyckoff - Tích luỹ số 3

image(11)

✅ Mẫu hình số 3 là mẫu hình biến thể của mẫu hình số #1, khi giá hình thành kênh giá bó hẹp (Trading Range chéo.

✅ Trong mẫu hình này có sự xuất hiện của Sping đánh dấu sự thay đổi cấu trúc thị trường.

✅ Spring được xác nhận khi giá tạo cấu trúc tăng sau đó đồng thời sự kiện SOS xuất hiện và được xác nhận.

4. Mẫu hình Wyckoff - Tích luỹ số 4

image(12)

✅ Mẫu hình số 4: Là mẫu hình giải thích cho mô hình “Round Bottom” thường thấy trên thị trường.

✅ Sự đặc biệt của mẫu hình này là sự hình thành của SOW trong Phase B nhưng giá từ chối tại các mức giá thấp hơn.

✅ Sự thay đổi chiến lược của dòng tiền thông minh thể hiện bằng một giai đoạn tích lũy tại vùng giá thấp sau đó dần hình thành toàn diện các đặc điểm của mô hình tích lũy.

✅ Mô hình được tham khảo bởi nghiên cứu của Prof. Roman Bogomazov (Wyckoff Associates.

5. Mẫu hình Wyckoff - Tích luỹ số 5

image(13)

✅ Mẫu hình số 5: Là mẫu hình biến thể của mẫu hình số #2, Trong mẫu hình này không có sự xuất hiện của Spring.

✅ Nỗ lực tăng giá đầu tiên bị từ chối, giá quay trở lại trong Trading Range và xuất hiện dấu hiệu hấp thụ Cung.

✅ Tại giai đoạn hấp thụ cung giá giữ nền , có thể tìm thấy cấu trúc tích lũy trong khung thời gian nhỏ hơn.

✅ Mô hình được tham khảo bởi nghiên cứu của Prof. Roman Bogomazov (Wyckoff Associates.

6. Mẫu hình Wyckoff - Tích luỹ số 6

image(14)

7. Mẫu hình Wyckoff - Tích luỹ số 7

image(15)

Các bước xác định Phase để tìm đáy theo phương pháp Wyckoff

Bước 1: Primary Support (PS)

üDấu hiệu chững lại đầu tiên của xu hướng xuống hiện tại (Thường xuất hiện với Volume mua cao), Bước này cũng có thể đánh dấu là CHoCH.

Bước 2: Selling Climax (SC)

üGiá được đẩy sâu hơn PS với Volume cạn dần.

üBước này xác nhận PS ở bước 1.

üNếu giá vẫn tiếp tục push down với volume lớn hơn >> chưa phải SC.

Bước 3: Secondary Test (ST) của SC

üGiá quay trở lại vị trí vùng cầu cùa SC sau đó quay lên trên.

üBước này xác nhận SC.

Bước 4: Automatic Rally (AR)

üSau khi xác định được ST của SC,giá bật tăng, đỉnh của nhịp này xác định biên trên của Trading Range

Bước 5: Secondary Testpha B (ST-B)

üGiá tiếp cận các vùng giá thấp của Trading Range sau.

Bước 6: Spring

üGiá vượt qua biên dưới của TR với biên độ mạnh và Volume cao.

üSau đó quay trở lại TR.

üPhá vỡ qua các vùng Resistance tạm thời trong TR (Jump Across The Creek-JAC).

üĐánh dấu Minor Sight of Strength (mSOS).

Bước 7: Major Sight of Strength (MSOS)

üGiá phá qua vùng cao nhất của Trading Range.

üTrong giai đoạn đi lên của giá lưu ý Volume bán giảm và có sự gia tăng của Volume mua.

üTại vùng giá cao nhất của TR tốt nhất có dấu hiệu Clean Break out hoặc một vùng tái tích lũy trong khung thời gian nhỏ nhưng giữ nền giá gần nửa trên của TR.

Bước 8: Last Point of Support (LPS)

üTrong giai đoạn đi lên của giá tạo ra cấu trúc HH và HL liên tiếp > xác nhận xu hướng tăng.

üCác vùng HL được coi là LPS.

Đến đây chúng ta đã xác định được hướng đi chính của giá và giá lúc này chỉ buy khi Back Up, không sell ngược.

Lưu ý: Spring or bước 6 có thể có hoặc không,chúng ta đánh giá theo cấu trúc của TT diễn biến trong TR.

Bài 4: Giai đoạn phân phối - Distribution: Hướng dẫn xác định các Phase

Để xác định pha phân phối (distribution) nhằm thoát hàng sớm nhất thì chúng ta căn cứ vào volume, cấu trúc thị trường và các quy luật của Wyckoff method. Chúng ta cùng đi vào các bước xác định Distribution Phase ở bài này nhé.

Các giai đoạn trong quá trình phân phối

Giai đoạn A: Nơi đanh dấu sự kết thúc của xu hướng Uptrend

Giai đoạn A trong giai đoạn phân phối sideway đánh dấu sự kết thúc của xu hướng uptrend trước đó. Tính đến thời điểm của giai đoạn A thì Cầu vẫn chiếm ưu thế nhưng Cung bắt đầu xuất hiện, bằng chứng là những phiên PSY xuất hiện và phiên mua đỉnh điểm là phiên quá mua BCLX.

Sự kiện này thường được theo sau bởi các phiên điều chỉnh AR và sau đó là các phiên test lại ST của phiên quá bán BCLX thường đi kèm với khối lượng giảm. Tuy nhiên xu hướng uptrend cũng có thể kết thúc mà không xuất hiện hành động mua cực đỉnh (BCLX) thay vào đó là sự xuất hiên những phiên tăng giá với biên độ hẹp cùng khối lượng giảm, và với cường độ tăng giá giảm dần trước khi xuất hiện một lực bán rất mạnh.

Trong giai đoạn phân phối trong một xu hướng uptrend chính, giai đoạn A có thể trống giống như bắt đầu một giai đoạn tích lũy (Ví dụ đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước kèm theo khối lượng giảm dần ở đỉnh). Tuy nhiên, các giai đoạn từ B đến E của giai đoạn tiếp tục phân phối có thể được phân tích theo cách tương tự với phân phối ở vùng đỉnh.

Giai đoạn B: xây dựng “nguyên nhân” để bắt đầu xu hướng downtrend

Chức năng của giai đoạn B là xây dựng một “nguyên nhân” để chuẩn bị cho một đợt downtrend sắp tới. Trong giai đoạn này, smart money bắt đầu bán ra lượng lớn cổ phiếu mà họ đang nắm giữ. Điều này báo hiệu cho một đợt giảm giá sắp tới.

Một số điểm chính của giai đoạn B trong giai đoạn phân phối tương tự như giai đoạn B trong giai đoạn tích lũy, chỉ khác nhau là hạnh động của smart money là bán ròng trong giai đoạn phân phối và mua ròng trong giai đoạn tích lũy.

Ví dụ tín hiệu SOW thường đi kèm với sự gia tăng đáng kể của biên độ giá và khối lượng giảm.

Giai đoạn C: giai đoạn phân phối gần như hoàn tất của smart money

Trong một giai đoạn phân phối, giai đoạn C có thể được xác nhận khi xuất hiện phiên uppthrust (UT) hoặc UTAD. Như đã nói ở trên, phiên UT ngược lại với phiên Spring. Tức là ở phiên UT giá tăng vượt qua đường kháng cự sau đó nhanh chóng giảm trở lại dưới đường kháng cự.

Đây là một phiên test cầu còn lại. Nó cũng chính là một bẫy tăng giá (Bull Trap) – phiên này tạo ra một tín hiệu giả rằng giá sẽ tăng trở lại nhưng thất bại. UT hoặc UTAD cho phép smart money đánh lừa đám đông mua vào ở những phiên này tức là họ bán được thêm một lượng cổ phiếu với giá cao trước khi bắt đầu downtrend.

Trong phái sinh bạn có thể mở vị thế bán sau khi xuất hiện phiên UT hoặc UTAD với tỉ lệ rủi ra không cao. Tuy nhiên smart money thường liên tục tạo ra các phiên UT hoặc UTAD để đánh lừa những nhà đầu tư mở vị thế bán sớm. Vì vậy sẽ an toàn hơn nếu bạn có thể chờ tham gia ở giai đoạn D và LPSY.

Thường lực Cầu quá yếu khiến cho giá không tăng trở lại được mức giá ở điểm quá mua BCLX hoặc phiên test ST ban đầu. Trong trường hợp này, những phiên test cầu ở giai đoạn C được xác nhận bởi phiên UT có mức giá cao nhất thấp hơn mức giá kháng cự.

Giai đoạn D: xác nhận chuyển từ giai đoạn phân phối sang downtrend

Giai đoạn D xuất hiện sau những phiên Test cầu ở giai đoạn C cho chúng ta thấy những lực cầu cuối cùng. Trong giai đoạn D, giá được điểu chỉnh giảm về mức hỗ trợ. Bằng chứng cho thấy nguồn Cung đang tăng lên vượt Cầu là giá giảm xuyên qua đường hỗ trợ hoặc những điểm giá hồi phục yếu ở dưới điểm trung bình của vùng phân phối sau những phiên UT hoặc UTAD. Thường có nhiều đợt hồi phục yếu ớt xuất hiện trong giai đoạn D.

Trong Phái sinh các LPSY này là cơ hội tuyệt vời để bắt đầu tham gia mở vị thế bán hoặc gia tăng vị thế bán nếu bạn đã tham gia ở giai đoạn trước. Bất cứ nhà đầu tư nào vẫn giữu vị thế mua trong giai đoạn D đều bị lỗ.

Giai đoạn E: giai đoạn tiếp tục xu hướng downtrend

Giai đoạn E là sự tiếp tục của xu hướng downtrend. Cổ phiếu rời khỏi vùng phân phối và lúc này nguồn cung chiếm ưu thế hoàn toàn. Một khi đường hỗ trợ bị phá vỡ trên một phiên SOW mạnh, phiên Breakdown này thường được test lại bằng một phiên hồi phục yếu ớt về vùng hỗ trợ trước đó nhưng thất bại.

Điều này cũng thể hiện cơ hội để gia tăng vị thế Bán. Các phiên hồi phục tiếp theo trong một xu hướng downtrend thường là rất yếu ớt, tức là đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước và đáy sau thấp hơn đáy trước. Nếu bạn đã mở vị thế short trước đó thì hãy đặt trước lệnh cắt lỗ ở mức giá tại các đỉnh trước đó.

Sau một đợt giảm đáng kể sẽ xuất hiện những phiên hồi phục và nếu xuất hiện những phiên có khối lượng giao dịch lớn nhưng giá đi ngang thì có thể đấy là giai đoạn tiếp tục phân phối trong một xu hướng downtrend hoặc cũng có thể là bắt đầu lại một giai đoạn tích lũy.

Bước 1: Preliminary supply (PSY)

✅ Dấu hiệu chững lại đầu tiên của xu hướng tăng, thường xuất hiện với volume bán cao và phản ứng giá giảm trong xu hướng tăng được coi là tín hiệu đầu tiên của sự thay đổi tính chất thị trường (CHoCH).

Bước 2: Buying Climax (BC)

✅ Giá được đẩy cao hơn PSY với volume cạn dần.

✅ Bước này xác nhận PSY ở bước 1.

✅ Nếu giá vẫn tiếp tục tang với volume lớn hơn>> Chưa phải là BC >> Quay lại bước 1.

Bước 3: Secondary Test củaBC (ST).

✅ Giá quay lại vùng cung của BC sau đó đi xuống.

üBước này xác nhận BC.

Bước 4: Automatic Reaction (AR)

✅ Sau khi BC được xác nhận, giá giảm, đáy của nhịp này xác định biên dưới của TR.

Bước 5: Up Thrust (UT)

✅ Giá nỗ lực tiếp cận/ vượt qua vùng biên trên của Trading Range sau đó quay trở lại với Volume thấp hoặc trung bình (Không xuất hiện Breakout).

Bước 6: Up Thrust After Distribution (UTAD)

✅ Giá tăng hướng đến hoặc vượt qua biên trên của TR thường có volume cao.

✅ Sau nỗ lực vượt qua biên trên và test lại không thành, giá quay trở lại bên trong TR.

✅ Sự kiện Break The Ice thường xuyên xuất hiện trong giai đoạn giá quay lại trong TR và phá vỡ qua các vùng Hỗ Trợ (Cầu) bên trong TR.

✅ Các Minor SOW xuất hiện trong giai đoạn này.

Bước 7: Major Sign of Weakness (MSOW)

✅ Giá vượt ra khỏi biên dưới của TR.

✅ Volume mua giảm và Volume bán tăng.

✅ BreakOut biên dưới của TR.

Bước 8: Last Point of Supply (LPSY)

✅ Trong giai đoạn đi xuống của giá tạo cấu trúc giảm (LL –LH) >> Xác nhận xu hướng giảm.

✅ Các vùng LH được coi là LPSY

Đến đây chúng ta đã xác định được hướng đi chính của giá và giá lúc này thuận theo xu hướng xuống khi giá BackUp.

Lưu ý:

Trong một nhịp hành động giá có thể mang tính chất của nhiều sự kiện.

UTAD có thể không xuất hiện rõ ràng, do vậy nên bám theo cấu trúc của thị trường để nắm được diễn biến giá.

distribution(1)

distribution2

distribution3

distribution4

_____________________***HẾT***_____________________

1. Tất cả bài viết trên MBAz đều là những kinh nghiệm mà đội ngũ Admin đã từng trải qua và áp dụng, nó có thể đúng với đội ngũ chúng tôi hoặc đại đa số kiến thức chung, nhưng chưa chắc đã phù hợp với bạn. Để biến kiến thức của người khác thành kiến thức của bản thân thì bạn cần học KIẾN THỨC ĐÚNG và SUY NGẪM, RÈN LUYỆN thật kỹ.

2. Mọi bài viết mang tính chất tham khảo, không phải lời khuyên đầu tư.

3. Luôn tuân thủ nguyên tắc quản lý vốn.

Bên cạnh việc theo dõi biến động thị trường, nhà đầu tư cũng cần lựa chọn Công ty chứng khoán có Nhân viên tư vấn môi giới có kinh nghiệm, tham gia thị trường lâu năm, am hiểu thị trường và hiệu quả tư vấn cao để tối ưu hóa lợi nhuận có thể tham khảo thêm thông tin bên dưới.


mo tai khoan chung khoan ekyc.jpg

Mọi thông tin cần hỗ trợ về Tư vấn đầu tư, Quản lý tài sản, Ủy quyền đầu tư và các nghiệp vụ chứng khoán khác, Quý khách vui lòng liên hệ:

Công ty Chứng khoán Phú Hưng Securities

Tầng 5, Tòa nhà Vinafor, Số 127 Lò Đúc, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam.

1- DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN: MỞ TÀI KHOẢN NGAY ĐỂ VÀO ROOM VIP NHẬN KHUYẾN NGHỊ CỔ PHIẾU & NHIỀU GAME XỊN

2- DÀNH CHO CÁC TỔ CHỨC/ DOANH NGHIỆP: MUỐN LÀM DEAL CỔ PHIẾU LỚN VUI LÒNG LIÊN HỆ: 0905 88 91 88

thac sy tai chinh quoc te.jpg

Trân trọng cảm ơn!

 

BTV - Chuyên mục Kinh tế chứng khoán tại MBAz.net