Fed nâng lãi suất thì ảnh hưởng tới những gì?
Quote from Nguyễn Phan Minh Sơn on Tháng 6 16, 2022, 9:10 chiều
- Lãi suất tăng là tin buồn cho người đi vay nhưng lại là tin vui cho người gửi tiết kiệm.
- Thị trường chứng khoán thường điều chỉnh giảm sau mỗi lần Fed tăng lãi suất.
- Với vị thế lớn của đồng USD, Fed tăng lãi suất còn ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế tại nhiều quốc gia trên toàn cầu (Xuất - Nhập khẩu bị ảnh hưởng nhất).
Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đang đẩy nhanh cuộc chiến chống lạm phát. Hôm 15/6, cơ quan này thông báo nâng lãi suất tham chiếu thêm 75 điểm cơ bản (0,75%), mạnh nhất kể từ năm 1994. Hồi tháng 5, họ cũng đã nâng lãi thêm 0,5%, cao nhất trong 22 năm.
Việc liên tục nâng lãi cho thấy Fed tự tin vào thị trường lao động Mỹ. Tuy nhiên, tốc độ tăng lãi suất cũng làm dấy lên lo ngại chi phí sinh hoạt của người dân và doanh nghiệp bị đẩy lên cao.
Lạm phát tháng 5 lập đỉnh 40 năm có thể buộc Fed nâng lãi thêm vài lần nữa trong những tháng tới. Thậm chí, quan chức Fed có thể phải tăng lãi mạnh tay hơn để kiềm chế lạm phát.
Chủ tịch Fed Jerome Powell trong cuộc họp báo ngày 15/6. Ảnh: AP.
Người Mỹ sẽ cảm nhận rõ tác động của sự thay đổi này. Họ sẽ không còn được vay lãi suất cực thấp khi mua nhà hay mua xe nữa. Nhưng tiền tiết kiệm trong các tài khoản ngân hàng cũng sẽ sinh lời thêm.
Fed có thể tăng tốc hoặc giảm tốc nền kinh tế bằng cách điều chỉnh lãi suất. Khi đại dịch xuất hiện, Fed gần như hạ lãi suất về 0% để khuyến khích người dân chi tiêu và doanh nghiệp đầu tư. Để hỗ trợ nhiều hơn nữa cho nền kinh tế, Fed đã tung hàng nghìn tỷ USD ra thị trường. Khi các thị trường tín dụng đóng băng hồi tháng 3/2020, Fed còn đưa ra các công cụ tín dụng khẩn cấp.
Các chính sách giải cứu của Fed đã phát huy tác dụng. Không có cuộc khủng hoảng tài chính nào diễn ra vì Covid-19. Vaccine và các khoản chi khổng lồ của Quốc hội Mỹ đã mở đường cho đà phục hồi nhanh chóng. Tuy nhiên, việc các chính sách được tung ra khẩn cấp, nhưng mãi chưa được gỡ bỏ, đã khiến nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như hiện tại.
Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ hiện gần đáy 50 năm. Nhưng lạm phát lại rất cao. Kinh tế Mỹ vì thế không còn cần nhiều hỗ trợ từ Fed nữa. Rủi ro chỉ là nếu Fed quá mạnh tay, nền kinh tế sẽ bị giảm tốc đến mức rơi vào suy thoái và lại kéo thất nghiệp lên cao.
Lãi suất đi vay tại Mỹ sẽ tăng lên
Lãi suất tham chiếu của Fed áp dụng cho các khoản vay qua đêm liên ngân hàng. Dù đây không phải mức lãi mà người tiêu dùng phải trả, động thái của Fed vẫn có thể ảnh hưởng đến lãi suất cho vay và tiết kiệm mà họ tiếp xúc hàng ngày.
Mỗi lần Fed nâng lãi suất, việc đi vay sẽ đắt đỏ hơn. Điều này đồng nghĩa mọi khoản vay, từ mua nhà, mua xe, thẻ tín dụng, vay nộp học phí sẽ tốn kém hơn. Chi phí đi vay với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cao lên.
Tác động dễ thấy nhất là trên thị trường vay mua nhà. Lãi suất cao đã khiến hoạt động mua bán nhà chậm lại thời gian qua. Lãi vay mua nhà cố định, kỳ hạn 30 năm tại Mỹ đã lên 5,23% trong tuần đầu tháng 6. Con số này tăng đáng kể so với chỉ 3% cùng kỳ năm ngoái.
Lãi suất tăng lên sẽ khiến việc mua nhà khó khăn hơn. Giá nhà tại Mỹ đã tăng chóng mặt trong đại dịch. Nhu cầu yếu đi có thể hạ nhiệt thị trường bất động sản nước này. Giá nhà trung bình tại Mỹ hồi tháng 4 tăng 15% so với năm ngoái, lên 391.200 USD, theo Hiệp hội Bất động sản Mỹ.
Lãi suất có thể tăng đến mức nào?
Nhà đầu tư hiện kỳ vọng Fed nâng mục tiêu lãi suất lên ít nhất 3,75% cuối năm nay. Fed từng tăng lãi suất lên 2,37% trong đợt nâng lãi gần nhất vào cuối năm 2018. Trước khủng hoảng tài chính 2007–2009, con số này còn lên tới 5%.
Hồi thập niên 80, Chủ tịch Fed thời đó, Paul Volcker, đã nâng lãi suất lên mức chưa từng có tiền lệ để kiềm chế lạm phát. Đến tháng 7/1981, lãi suất tham chiếu của Fed đã chạm 22%.
Tuy nhiên, tác động lên lãi suất cho vay những tháng tới còn phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ tăng lãi của Fed. Mà việc này vẫn còn chưa được quyết định.
Tin vui với người gửi tiết kiệm
Việc Fed duy trì lãi suất gần 0% suốt 2 năm khiến người gửi tiết kiệm gần như không kiếm được gì. Nếu trừ đi lạm phát, họ thậm chí còn lỗ.
Tin tốt là lãi suất tiết kiệm sẽ tăng khi Fed nâng lãi tham chiếu. Nhưng việc này cần thời gian. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là với các ngân hàng lớn, tác động sẽ khó mà thấy qua một đêm. Bên cạnh đó, dù đã qua vài đợt nâng lãi, lãi suất tiết kiệm cũng vẫn rất thấp, thấp hơn lạm phát và lợi nhuận trên thị trường chứng khoán.
Các thị trường sẽ phải điều chỉnh theo
Lãi suất thấp kìm hãm nhu cầu trái phiếu chính phủ và đẩy nhà đầu tư đến các tài sản rủi ro, như cổ phiếu. Dù vậy, lãi suất cao cũng là thách thức với thị trường chứng khoán, vốn đã quá quen thuộc, nếu không muốn nói là nghiện, tiền rẻ.
Chứng khoán Mỹ đã rơi vào thị trường giá xuống hôm thứ 2 (13/6), do lo ngại việc Fed nâng lãi suất mạnh tay sẽ kéo kinh tế Mỹ vào suy thoái. Tuy nhiên, phần lớn tác động này sẽ phụ thuộc vào việc Fed nâng lãi nhanh đến mức nào, và các yếu tố kinh tế nền tảng, lợi nhuận doanh nghiệp biến động ra sao sau đó.
Tối thiểu thì việc nâng lãi cũng đồng nghĩa thị trường chứng khoán sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn với trái phiếu chính phủ.
Lãi suất tham chiếu tại Mỹ trong hơn 40 năm qua (màu đỏ là những lần Fed nâng lãi từ 0,75% trở lên). Ảnh: CNN/Refinitiv.
Lạm phát tại Mỹ liệu có hạ nhiệt?
Mục tiêu của Fed khi nâng lãi là kiểm soát lạm phát mà không gây tác động đến sự phục hồi của thị trường viêc làm. Lạm phát tháng 5 của Mỹ tăng 8,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 12/1981, theo Bộ Lao động Mỹ. Lạm phát nước này hiện cách xa mục tiêu 2% của Fed và vài tháng gần đây càng tệ hơn.
Các nhà kinh tế học cảnh báo lạm phát có thể còn cao hơn nữa khi giá xăng tại Mỹ gần đây liên tiếp lập đỉnh. Giá xăng ở nước này đã tăng tốc sau khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine.
Mọi hàng hóa tại Mỹ, từ thực phẩm, năng lượng đến kim loại đều trở nên đắt đỏ hơn. Chi phí sinh hoạt cao đang khiến hàng triệu người Mỹ đau đầu. Niềm tin tiêu dùng hiện thấp kỷ lục. Tỷ lệ tín nhiệm của Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng rất thấp.
Các chính sách của Fed cần thời gian để phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như xung đột tại Ukraine, sự gián đoạn chuỗi cung ứng và cả Covid-19.
Tác động lên toàn cầu
Việc Fed nâng lãi suất có thể sẽ gây tác động lan truyền đến kinh tế thế giới, như việc lạm phát Mỹ khiến các thị trường chứng khoán bị bán tháo đầu tuần này. "Xét về mặt nào đó, Fed cũng được coi là ngân hàng trung ương toàn cầu, và có thể gây ra suy thoái toàn cầu", Kristina Hooper, Chiến lược gia thị trường tại Invesco, nhận định trên CNBC.
Hooper kỳ vọng Mỹ sẽ tránh được suy thoái và Fed sẽ thành công trong việc giúp nước này "hạ cánh mềm". Tuy nhiên, bà cũng thừa nhận kinh tế Mỹ đang chậm lại đáng kể và viêc "hạ cánh mềm" ngày càng khó.
Nhà kinh tế học nổi tiếng Kenneth Rogoff hồi tháng 4 cũng chỉ ra rằng suy thoái tại Mỹ, đặc biệt nếu gây ra bởi tăng lãi suất, sẽ kìm hãm nhu cầu nhập khẩu trên thế giới và giáng đòn mạnh lên các thị trường tài chính.
Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng trung ương khác cũng có thể nâng lãi theo Fed. Tuần trước, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) xác nhận sẽ nâng lãi suất cơ bản thêm 0,25% trong phiên họp tháng 7 và tháng 9. "Rõ ràng là việc đồng USD mạnh lên và euro yếu đi sẽ khiến các quan chức ECB lo ngại", Carsten Brzeski, Giám đốc Vĩ mô tại ngân hàng ING, cho biết trên CNBC.
"So với các nước phụ thuộc nhiều vào thương mại, như Thụy Sĩ, Nhật Bản, khu vực eurozone và nhiều nền kinh tế mới nổi, kinh tế Mỹ ít nhạy cảm hơn trong điều kiện tài chính thắt chặt", Geoffrey Yu, Chiến lược gia thị trường tại BNY Mellon nhận định, "Hàng hóa toàn cầu được định giá bằng USD. Vì thế, quan điểm của các nước trên là trong tình hình hiện tại, USD mạnh là điều không tốt".
Yu cho rằng việc Fed nâng lãi có thể giúp các ngân hàng trung ương tại châu Âu, Thụy Sĩ, Nhật Bản có thêm dư địa thắt chặt chính sách để hỗ trợ nội tệ.
Tháng trước, sau khi Fed nâng lãi suất, Hong Kong và các nước Vùng Vịnh, vốn neo nội tệ vào USD, cũng có động thái tương tự. Cơ quan Quản lý Tiền tệ Hong Kong (HKMA) hôm 4/5 nâng lãi suất cơ bản từ 0,75% lên 1,25%. Trong khi đó, Saudi Arabia, Các tiểu Vương quốc Arab thống nhất (UAE), Qatar và Bahrain nâng thêm 0,5%.
Tuy nhiên, hồi tháng 4, Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva cảnh báo Fed và các ngân hàng trung ương khác "suy nghĩ kỹ về rủi ro lan truyền với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển dễ tổn thương".
Nguyên nhân là việc này có thể làm thay đổi dòng chảy đầu tư toàn cầu, khiến dòng vốn rời các nước nghèo để chảy sang Mỹ. Việc này sẽ kéo giá đôla Mỹ lên và đẩy giá các đồng tiền khác xuống. Để bảo vệ nội tệ, các nước này có thể cũng sẽ nâng lãi suất theo, gây ra hệ quả như kéo tụt tăng trưởng, xóa sổ nhiều việc làm và doanh nghiệp ngại đi vay. Các chính phủ mắc nợ cũng sẽ phải chi nhiều hơn cho việc trả nợ, từ đó ảnh hưởng đến ngân sách cho những việc như chống dịch hay xóa đói giảm nghèo.
- Lãi suất tăng là tin buồn cho người đi vay nhưng lại là tin vui cho người gửi tiết kiệm.
- Thị trường chứng khoán thường điều chỉnh giảm sau mỗi lần Fed tăng lãi suất.
- Với vị thế lớn của đồng USD, Fed tăng lãi suất còn ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế tại nhiều quốc gia trên toàn cầu (Xuất - Nhập khẩu bị ảnh hưởng nhất).
Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đang đẩy nhanh cuộc chiến chống lạm phát. Hôm 15/6, cơ quan này thông báo nâng lãi suất tham chiếu thêm 75 điểm cơ bản (0,75%), mạnh nhất kể từ năm 1994. Hồi tháng 5, họ cũng đã nâng lãi thêm 0,5%, cao nhất trong 22 năm.
Việc liên tục nâng lãi cho thấy Fed tự tin vào thị trường lao động Mỹ. Tuy nhiên, tốc độ tăng lãi suất cũng làm dấy lên lo ngại chi phí sinh hoạt của người dân và doanh nghiệp bị đẩy lên cao.
Lạm phát tháng 5 lập đỉnh 40 năm có thể buộc Fed nâng lãi thêm vài lần nữa trong những tháng tới. Thậm chí, quan chức Fed có thể phải tăng lãi mạnh tay hơn để kiềm chế lạm phát.
![]() |
|
Chủ tịch Fed Jerome Powell trong cuộc họp báo ngày 15/6. Ảnh: AP. |
Người Mỹ sẽ cảm nhận rõ tác động của sự thay đổi này. Họ sẽ không còn được vay lãi suất cực thấp khi mua nhà hay mua xe nữa. Nhưng tiền tiết kiệm trong các tài khoản ngân hàng cũng sẽ sinh lời thêm.
Fed có thể tăng tốc hoặc giảm tốc nền kinh tế bằng cách điều chỉnh lãi suất. Khi đại dịch xuất hiện, Fed gần như hạ lãi suất về 0% để khuyến khích người dân chi tiêu và doanh nghiệp đầu tư. Để hỗ trợ nhiều hơn nữa cho nền kinh tế, Fed đã tung hàng nghìn tỷ USD ra thị trường. Khi các thị trường tín dụng đóng băng hồi tháng 3/2020, Fed còn đưa ra các công cụ tín dụng khẩn cấp.
Các chính sách giải cứu của Fed đã phát huy tác dụng. Không có cuộc khủng hoảng tài chính nào diễn ra vì Covid-19. Vaccine và các khoản chi khổng lồ của Quốc hội Mỹ đã mở đường cho đà phục hồi nhanh chóng. Tuy nhiên, việc các chính sách được tung ra khẩn cấp, nhưng mãi chưa được gỡ bỏ, đã khiến nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như hiện tại.
Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ hiện gần đáy 50 năm. Nhưng lạm phát lại rất cao. Kinh tế Mỹ vì thế không còn cần nhiều hỗ trợ từ Fed nữa. Rủi ro chỉ là nếu Fed quá mạnh tay, nền kinh tế sẽ bị giảm tốc đến mức rơi vào suy thoái và lại kéo thất nghiệp lên cao.
Lãi suất đi vay tại Mỹ sẽ tăng lên
Lãi suất tham chiếu của Fed áp dụng cho các khoản vay qua đêm liên ngân hàng. Dù đây không phải mức lãi mà người tiêu dùng phải trả, động thái của Fed vẫn có thể ảnh hưởng đến lãi suất cho vay và tiết kiệm mà họ tiếp xúc hàng ngày.
Mỗi lần Fed nâng lãi suất, việc đi vay sẽ đắt đỏ hơn. Điều này đồng nghĩa mọi khoản vay, từ mua nhà, mua xe, thẻ tín dụng, vay nộp học phí sẽ tốn kém hơn. Chi phí đi vay với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cao lên.
Tác động dễ thấy nhất là trên thị trường vay mua nhà. Lãi suất cao đã khiến hoạt động mua bán nhà chậm lại thời gian qua. Lãi vay mua nhà cố định, kỳ hạn 30 năm tại Mỹ đã lên 5,23% trong tuần đầu tháng 6. Con số này tăng đáng kể so với chỉ 3% cùng kỳ năm ngoái.
Lãi suất tăng lên sẽ khiến việc mua nhà khó khăn hơn. Giá nhà tại Mỹ đã tăng chóng mặt trong đại dịch. Nhu cầu yếu đi có thể hạ nhiệt thị trường bất động sản nước này. Giá nhà trung bình tại Mỹ hồi tháng 4 tăng 15% so với năm ngoái, lên 391.200 USD, theo Hiệp hội Bất động sản Mỹ.
Lãi suất có thể tăng đến mức nào?
Nhà đầu tư hiện kỳ vọng Fed nâng mục tiêu lãi suất lên ít nhất 3,75% cuối năm nay. Fed từng tăng lãi suất lên 2,37% trong đợt nâng lãi gần nhất vào cuối năm 2018. Trước khủng hoảng tài chính 2007–2009, con số này còn lên tới 5%.
Hồi thập niên 80, Chủ tịch Fed thời đó, Paul Volcker, đã nâng lãi suất lên mức chưa từng có tiền lệ để kiềm chế lạm phát. Đến tháng 7/1981, lãi suất tham chiếu của Fed đã chạm 22%.
Tuy nhiên, tác động lên lãi suất cho vay những tháng tới còn phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ tăng lãi của Fed. Mà việc này vẫn còn chưa được quyết định.
Tin vui với người gửi tiết kiệm
Việc Fed duy trì lãi suất gần 0% suốt 2 năm khiến người gửi tiết kiệm gần như không kiếm được gì. Nếu trừ đi lạm phát, họ thậm chí còn lỗ.
Tin tốt là lãi suất tiết kiệm sẽ tăng khi Fed nâng lãi tham chiếu. Nhưng việc này cần thời gian. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là với các ngân hàng lớn, tác động sẽ khó mà thấy qua một đêm. Bên cạnh đó, dù đã qua vài đợt nâng lãi, lãi suất tiết kiệm cũng vẫn rất thấp, thấp hơn lạm phát và lợi nhuận trên thị trường chứng khoán.
Các thị trường sẽ phải điều chỉnh theo
Lãi suất thấp kìm hãm nhu cầu trái phiếu chính phủ và đẩy nhà đầu tư đến các tài sản rủi ro, như cổ phiếu. Dù vậy, lãi suất cao cũng là thách thức với thị trường chứng khoán, vốn đã quá quen thuộc, nếu không muốn nói là nghiện, tiền rẻ.
Chứng khoán Mỹ đã rơi vào thị trường giá xuống hôm thứ 2 (13/6), do lo ngại việc Fed nâng lãi suất mạnh tay sẽ kéo kinh tế Mỹ vào suy thoái. Tuy nhiên, phần lớn tác động này sẽ phụ thuộc vào việc Fed nâng lãi nhanh đến mức nào, và các yếu tố kinh tế nền tảng, lợi nhuận doanh nghiệp biến động ra sao sau đó.
Tối thiểu thì việc nâng lãi cũng đồng nghĩa thị trường chứng khoán sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn với trái phiếu chính phủ.
![]() |
|
Lãi suất tham chiếu tại Mỹ trong hơn 40 năm qua (màu đỏ là những lần Fed nâng lãi từ 0,75% trở lên). Ảnh: CNN/Refinitiv. |
Lạm phát tại Mỹ liệu có hạ nhiệt?
Mục tiêu của Fed khi nâng lãi là kiểm soát lạm phát mà không gây tác động đến sự phục hồi của thị trường viêc làm. Lạm phát tháng 5 của Mỹ tăng 8,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 12/1981, theo Bộ Lao động Mỹ. Lạm phát nước này hiện cách xa mục tiêu 2% của Fed và vài tháng gần đây càng tệ hơn.
Các nhà kinh tế học cảnh báo lạm phát có thể còn cao hơn nữa khi giá xăng tại Mỹ gần đây liên tiếp lập đỉnh. Giá xăng ở nước này đã tăng tốc sau khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine.
Mọi hàng hóa tại Mỹ, từ thực phẩm, năng lượng đến kim loại đều trở nên đắt đỏ hơn. Chi phí sinh hoạt cao đang khiến hàng triệu người Mỹ đau đầu. Niềm tin tiêu dùng hiện thấp kỷ lục. Tỷ lệ tín nhiệm của Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng rất thấp.
Các chính sách của Fed cần thời gian để phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như xung đột tại Ukraine, sự gián đoạn chuỗi cung ứng và cả Covid-19.
Tác động lên toàn cầu
Việc Fed nâng lãi suất có thể sẽ gây tác động lan truyền đến kinh tế thế giới, như việc lạm phát Mỹ khiến các thị trường chứng khoán bị bán tháo đầu tuần này. "Xét về mặt nào đó, Fed cũng được coi là ngân hàng trung ương toàn cầu, và có thể gây ra suy thoái toàn cầu", Kristina Hooper, Chiến lược gia thị trường tại Invesco, nhận định trên CNBC.
Hooper kỳ vọng Mỹ sẽ tránh được suy thoái và Fed sẽ thành công trong việc giúp nước này "hạ cánh mềm". Tuy nhiên, bà cũng thừa nhận kinh tế Mỹ đang chậm lại đáng kể và viêc "hạ cánh mềm" ngày càng khó.
Nhà kinh tế học nổi tiếng Kenneth Rogoff hồi tháng 4 cũng chỉ ra rằng suy thoái tại Mỹ, đặc biệt nếu gây ra bởi tăng lãi suất, sẽ kìm hãm nhu cầu nhập khẩu trên thế giới và giáng đòn mạnh lên các thị trường tài chính.
Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng trung ương khác cũng có thể nâng lãi theo Fed. Tuần trước, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) xác nhận sẽ nâng lãi suất cơ bản thêm 0,25% trong phiên họp tháng 7 và tháng 9. "Rõ ràng là việc đồng USD mạnh lên và euro yếu đi sẽ khiến các quan chức ECB lo ngại", Carsten Brzeski, Giám đốc Vĩ mô tại ngân hàng ING, cho biết trên CNBC.
"So với các nước phụ thuộc nhiều vào thương mại, như Thụy Sĩ, Nhật Bản, khu vực eurozone và nhiều nền kinh tế mới nổi, kinh tế Mỹ ít nhạy cảm hơn trong điều kiện tài chính thắt chặt", Geoffrey Yu, Chiến lược gia thị trường tại BNY Mellon nhận định, "Hàng hóa toàn cầu được định giá bằng USD. Vì thế, quan điểm của các nước trên là trong tình hình hiện tại, USD mạnh là điều không tốt".
Yu cho rằng việc Fed nâng lãi có thể giúp các ngân hàng trung ương tại châu Âu, Thụy Sĩ, Nhật Bản có thêm dư địa thắt chặt chính sách để hỗ trợ nội tệ.
Tháng trước, sau khi Fed nâng lãi suất, Hong Kong và các nước Vùng Vịnh, vốn neo nội tệ vào USD, cũng có động thái tương tự. Cơ quan Quản lý Tiền tệ Hong Kong (HKMA) hôm 4/5 nâng lãi suất cơ bản từ 0,75% lên 1,25%. Trong khi đó, Saudi Arabia, Các tiểu Vương quốc Arab thống nhất (UAE), Qatar và Bahrain nâng thêm 0,5%.
Tuy nhiên, hồi tháng 4, Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva cảnh báo Fed và các ngân hàng trung ương khác "suy nghĩ kỹ về rủi ro lan truyền với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển dễ tổn thương".
Nguyên nhân là việc này có thể làm thay đổi dòng chảy đầu tư toàn cầu, khiến dòng vốn rời các nước nghèo để chảy sang Mỹ. Việc này sẽ kéo giá đôla Mỹ lên và đẩy giá các đồng tiền khác xuống. Để bảo vệ nội tệ, các nước này có thể cũng sẽ nâng lãi suất theo, gây ra hệ quả như kéo tụt tăng trưởng, xóa sổ nhiều việc làm và doanh nghiệp ngại đi vay. Các chính phủ mắc nợ cũng sẽ phải chi nhiều hơn cho việc trả nợ, từ đó ảnh hưởng đến ngân sách cho những việc như chống dịch hay xóa đói giảm nghèo.
Quote from Nguyễn Phan Minh Sơn on Tháng 6 16, 2022, 9:23 chiềuNội dung chính
ToggleNgân hàng trung ương Thụy Sĩ tăng lãi suất lần đầu tiên sau 15 năm
Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) đã tăng lãi suất lần đầu tiên sau 15 năm vào thứ Năm (16/6), cùng với các ngân hàng trung ương khác thắt chặt chính sách tiền tệ để chống lại lạm phát gia tăng và khiến đồng franc tăng mạnh.
Ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất chính sách từ mức -0,75% lên -0,25%. Đây là lần tăng lãi suất đầu tiên của SNB kể từ tháng 9/2007.
Động thái này diễn ra sau đợt tăng lãi suất 0,75% của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) vào thứ Tư (15/6), trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) báo hiệu vào tuần trước rằng, họ sẽ tăng lãi suất vào tháng 7 để kiểm soát lạm phát gia tăng trong khu vực đồng euro, vốn đạt 8,1% vào tháng trước.
“Chính sách tiền tệ thắt chặt hơn nhằm ngăn chặn lạm phát lan rộng hơn sang hàng hóa và dịch vụ ở Thụy Sĩ. Không thể loại trừ rằng, việc tăng thêm tỷ lệ chính sách SNB sẽ là cần thiết trong tương lai gần để ổn định lạm phát trong phạm vi phù hợp với ổn định giá cả trong trung hạn”, thông báo của SNB cho biết.
Chủ tịch SNB Thomas Jordan cho biết, tình hình lạm phát với việc Thụy Sĩ chứng kiến mức tăng giá cao nhất trong gần 14 năm trong tháng 5 khiến SNB có thể phải hành động trở lại.
"Dự báo lạm phát mới cho thấy, việc tăng thêm lãi suất chính sách có thể là cần thiết trong tương lai gần”, ông cho biết.
Việc tăng lãi suất là cần thiết để kiểm soát mức giá tăng ở Thụy Sĩ vốn đã lan sang hàng hóa và dịch vụ trước đây không bị ảnh hưởng bởi tác động của xung đột ở Ukraine và các nút thắt trong chuỗi cung ứng liên quan đến đại dịch.
“Trong môi trường hiện tại, việc tăng giá diễn ra nhanh hơn và cũng đang được chấp nhận dễ dàng hơn so với trường hợp gần đây”, Chủ tịch SNB nói và cho biết: “Để đảm bảo các điều kiện tiền tệ phù hợp, SNB cũng sẵn sàng hoạt động tích cực trên thị trường ngoại hối khi cần thiết”.
Trong khi đó, nhờ vào sức mạnh của đồng franc trú ẩn an toàn đã làm giảm tác động của lạm phát ở Thụy Sĩ bằng cách giảm mức tăng giá đối với nhiên liệu và thực phẩm nhập khẩu.
Tuy nhiên, SNB đã nâng dự báo lạm phát cho năm 2022 từ mức 2,1% lên 2,8% mà họ đã đưa ra vào tháng 3. SNB cũng dự kiến lạm phát lần lượt là 1,9% và 1,6% vào năm 2023 và 2024, tăng so với quan điểm trước đó của SNB đối với mức giá tăng 0,9% trong cả hai năm.
Mặt khác, SNB vẫn kỳ vọng nền kinh tế Thụy Sĩ sẽ tăng trưởng khoảng 2,5% vào năm 2022.
Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ tăng lãi suất lần đầu tiên sau 15 năm

Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) đã tăng lãi suất lần đầu tiên sau 15 năm vào thứ Năm (16/6), cùng với các ngân hàng trung ương khác thắt chặt chính sách tiền tệ để chống lại lạm phát gia tăng và khiến đồng franc tăng mạnh.
Ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất chính sách từ mức -0,75% lên -0,25%. Đây là lần tăng lãi suất đầu tiên của SNB kể từ tháng 9/2007.
Động thái này diễn ra sau đợt tăng lãi suất 0,75% của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) vào thứ Tư (15/6), trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) báo hiệu vào tuần trước rằng, họ sẽ tăng lãi suất vào tháng 7 để kiểm soát lạm phát gia tăng trong khu vực đồng euro, vốn đạt 8,1% vào tháng trước.
“Chính sách tiền tệ thắt chặt hơn nhằm ngăn chặn lạm phát lan rộng hơn sang hàng hóa và dịch vụ ở Thụy Sĩ. Không thể loại trừ rằng, việc tăng thêm tỷ lệ chính sách SNB sẽ là cần thiết trong tương lai gần để ổn định lạm phát trong phạm vi phù hợp với ổn định giá cả trong trung hạn”, thông báo của SNB cho biết.
Chủ tịch SNB Thomas Jordan cho biết, tình hình lạm phát với việc Thụy Sĩ chứng kiến mức tăng giá cao nhất trong gần 14 năm trong tháng 5 khiến SNB có thể phải hành động trở lại.
"Dự báo lạm phát mới cho thấy, việc tăng thêm lãi suất chính sách có thể là cần thiết trong tương lai gần”, ông cho biết.
Việc tăng lãi suất là cần thiết để kiểm soát mức giá tăng ở Thụy Sĩ vốn đã lan sang hàng hóa và dịch vụ trước đây không bị ảnh hưởng bởi tác động của xung đột ở Ukraine và các nút thắt trong chuỗi cung ứng liên quan đến đại dịch.
“Trong môi trường hiện tại, việc tăng giá diễn ra nhanh hơn và cũng đang được chấp nhận dễ dàng hơn so với trường hợp gần đây”, Chủ tịch SNB nói và cho biết: “Để đảm bảo các điều kiện tiền tệ phù hợp, SNB cũng sẵn sàng hoạt động tích cực trên thị trường ngoại hối khi cần thiết”.
Trong khi đó, nhờ vào sức mạnh của đồng franc trú ẩn an toàn đã làm giảm tác động của lạm phát ở Thụy Sĩ bằng cách giảm mức tăng giá đối với nhiên liệu và thực phẩm nhập khẩu.
Tuy nhiên, SNB đã nâng dự báo lạm phát cho năm 2022 từ mức 2,1% lên 2,8% mà họ đã đưa ra vào tháng 3. SNB cũng dự kiến lạm phát lần lượt là 1,9% và 1,6% vào năm 2023 và 2024, tăng so với quan điểm trước đó của SNB đối với mức giá tăng 0,9% trong cả hai năm.
Mặt khác, SNB vẫn kỳ vọng nền kinh tế Thụy Sĩ sẽ tăng trưởng khoảng 2,5% vào năm 2022.
Quote from Nguyễn Phan Minh Sơn on Tháng 6 16, 2022, 9:24 chiềuBoE công bố mức tăng lãi suất cao nhất kể từ đầu năm 2009
Ủy ban Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) đã nhất trí tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm, lên 1,25%; đây là mức lãi suất chủ chốt cao nhất của Anh kể từ tháng 1/2009.
BoE cảnh báo nền kinh tế Anh sẽ suy giảm trong quý 2 năm 2022. (Ảnh: AFP/TTXVN)Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) đã quyết định nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm tại cuộc họp ngày 16/6, song cho biết họ đã sẵn sàng hành động mạnh mẽ để “dập tắt” các nguy cơ gây ra bởi tỷ lệ lạm phát cao, hiện trên 11%.
Động thái trên diễn ra chỉ một ngày sau khi Cục Dự trữ liên bang (Fed) tiến hành đợt tăng lãi suất mạnh nhất kể từ năm 1994 với mức tăng 0,75 điểm phần trăm, trong khi BoE đang “mắc kẹt” với cách tiếp cận chậm rãi hơn, bởi ngân hàng này cảnh báo rằng nền kinh tế Anh sẽ suy giảm trong quý 2 năm 2022.
Ủy ban Chính sách tiền tệ của BoE đã nhất trí tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm, lên 1,25%. Đây là mức lãi suất chủ chốt cao nhất của Anh kể từ tháng 1/2009.
Như vậy, tính từ tháng 12/2021, BoE đã tăng lãi suất 5 lần và trở thành ngân hàng trung ương lớn đầu tiên thắt chặt chính sách tiền tệ từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát.
BoE nhấn mạnh: “Quy mô, tốc độ và thời gian của bất kỳ đợt tăng lãi suất nào khác sẽ phản ánh đánh giá của Ủy ban Chính sách tiền tệ về nền kinh tế Anh. Ủy ban sẽ đặc biệt cảnh giác trước những dấu hiệu của áp lực lạm phát dai dẳng hơn và nếu cần thiết sẽ hành động mạnh mẽ để đáp lại."
Hầu hết thành viên Ủy ban Chính sách tiền tệ của BoE tin rằng việc thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nữa vẫn có thể phù hợp trong những tháng tới.
Tuy nhiên, một số nhà phê bình nói rằng, ngân hàng này hành động quá chậm để ngăn chặn lạm phát gia tăng, gây tổn hại cho nền kinh tế trong dài hạn.
Các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới đang cố gắng chứng tỏ rằng họ có thể kiềm chế lạm phát, vốn đang chạm các mức chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ, được thúc đẩy bởi sự mở cửa trở lại của nền kinh tế toàn cầu sau đại dịch COVID-19 và sau đó là cuộc xung đột Nga-Ukraine.
Hồi tuần trước, Ngân hàng Trung ương châu Âu cho biết, họ sẽ nâng lãi suất vào tháng Bảy tới, lần đầu tiên kể từ năm 2011 và sẽ tiến hành đợt tương tự vào tháng 9/2022, với mức tăng có thể là 0,5 điểm phần trăm.
Cũng trong ngày 16/6, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ đã tăng lãi suất chủ chốt lần đầu tiên sau 15 năm, với mức tăng 0,5 điểm phần trăm. Còn ngân hàng trung ương của Hungary cũng bất ngờ tăng lãi suất tiền gửi một tuần.
BoE vẫn quyết định tăng lãi suất mặc dù họ đã cảnh báo về đà giảm tốc mạnh của nền kinh tế Anh. Lạm phát giá tiêu dùng của Anh đạt mức cao nhất trong 40 năm là 9% vào tháng 4/2022, gấp hơn bốn lần so với mục tiêu 2% của BoE, và ngân hàng này trong cùng ngày đã nâng dự báo về mức lạm của anh trong tháng 10/2022 lên trên 11%, do giá năng lượng leo thang.
Xu hướng gia tăng lạm phát của Anh có vẻ sẽ kéo dài hơn ở nhiều nền kinh tế khác, một phần do tác động chậm trễ của cơ chế tính giá điện trong nước mà còn do tác động của hoạt động thương mại hậu Brexit, chỉ việc Anh rời Liên minh châu Âu.
Bên cạnh đó, việc thiếu lao động thường xuyên để lấp đầy các vị trí tuyển dụng đang khiến BoE quan ngại, bởi nó có thể dẫn đến việc tăng lương và biến lạm phát tăng cao trở thành một vấn đề nan giải hơn.
Sự sụt giảm giá trị của đồng bảng Anh trong những tuần gần đây, gây ra phần lớn bởi những đồn đoán xung quanh việc nâng lãi suất tại Mỹ và Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone), qua đó càng tăng thêm áp lực lạm phát tại Anh.
BoE cũng hạ mức dự báo ngắn hạn cho tăng trưởng kinh tế Anh, cho rằng kinh tế nước này sẽ giảm 0,3% trong quý 2 năm 2022, đảo ngược so với dự báo tăng trưởng 0,1% được đưa ra hồi tháng Năm.
Động thái này diễn ra bất chấp các biện pháp do Bộ trưởng tài chính Anh Rishi Sunak đưa ra vào cuối tháng Năm nhằm giúp các hộ gia đình tại Anh bị ảnh hưởng bởi lạm phát tăng vọt.
BoE cho biết, các biện pháp này có thể giúp sản lượng kinh tế tăng 0,3% và đẩy lạm phát tăng 0,1 điểm phần trăm trong năm đầu tiên thực hiện./.
BoE công bố mức tăng lãi suất cao nhất kể từ đầu năm 2009
Ủy ban Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) đã nhất trí tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm, lên 1,25%; đây là mức lãi suất chủ chốt cao nhất của Anh kể từ tháng 1/2009.
BoE cảnh báo nền kinh tế Anh sẽ suy giảm trong quý 2 năm 2022. (Ảnh: AFP/TTXVN)
|
Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) đã quyết định nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm tại cuộc họp ngày 16/6, song cho biết họ đã sẵn sàng hành động mạnh mẽ để “dập tắt” các nguy cơ gây ra bởi tỷ lệ lạm phát cao, hiện trên 11%.
Động thái trên diễn ra chỉ một ngày sau khi Cục Dự trữ liên bang (Fed) tiến hành đợt tăng lãi suất mạnh nhất kể từ năm 1994 với mức tăng 0,75 điểm phần trăm, trong khi BoE đang “mắc kẹt” với cách tiếp cận chậm rãi hơn, bởi ngân hàng này cảnh báo rằng nền kinh tế Anh sẽ suy giảm trong quý 2 năm 2022.
Ủy ban Chính sách tiền tệ của BoE đã nhất trí tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm, lên 1,25%. Đây là mức lãi suất chủ chốt cao nhất của Anh kể từ tháng 1/2009.
Như vậy, tính từ tháng 12/2021, BoE đã tăng lãi suất 5 lần và trở thành ngân hàng trung ương lớn đầu tiên thắt chặt chính sách tiền tệ từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát.
BoE nhấn mạnh: “Quy mô, tốc độ và thời gian của bất kỳ đợt tăng lãi suất nào khác sẽ phản ánh đánh giá của Ủy ban Chính sách tiền tệ về nền kinh tế Anh. Ủy ban sẽ đặc biệt cảnh giác trước những dấu hiệu của áp lực lạm phát dai dẳng hơn và nếu cần thiết sẽ hành động mạnh mẽ để đáp lại."
Hầu hết thành viên Ủy ban Chính sách tiền tệ của BoE tin rằng việc thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nữa vẫn có thể phù hợp trong những tháng tới.
Tuy nhiên, một số nhà phê bình nói rằng, ngân hàng này hành động quá chậm để ngăn chặn lạm phát gia tăng, gây tổn hại cho nền kinh tế trong dài hạn.
Các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới đang cố gắng chứng tỏ rằng họ có thể kiềm chế lạm phát, vốn đang chạm các mức chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ, được thúc đẩy bởi sự mở cửa trở lại của nền kinh tế toàn cầu sau đại dịch COVID-19 và sau đó là cuộc xung đột Nga-Ukraine.
Hồi tuần trước, Ngân hàng Trung ương châu Âu cho biết, họ sẽ nâng lãi suất vào tháng Bảy tới, lần đầu tiên kể từ năm 2011 và sẽ tiến hành đợt tương tự vào tháng 9/2022, với mức tăng có thể là 0,5 điểm phần trăm.
Cũng trong ngày 16/6, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ đã tăng lãi suất chủ chốt lần đầu tiên sau 15 năm, với mức tăng 0,5 điểm phần trăm. Còn ngân hàng trung ương của Hungary cũng bất ngờ tăng lãi suất tiền gửi một tuần.
BoE vẫn quyết định tăng lãi suất mặc dù họ đã cảnh báo về đà giảm tốc mạnh của nền kinh tế Anh. Lạm phát giá tiêu dùng của Anh đạt mức cao nhất trong 40 năm là 9% vào tháng 4/2022, gấp hơn bốn lần so với mục tiêu 2% của BoE, và ngân hàng này trong cùng ngày đã nâng dự báo về mức lạm của anh trong tháng 10/2022 lên trên 11%, do giá năng lượng leo thang.
Xu hướng gia tăng lạm phát của Anh có vẻ sẽ kéo dài hơn ở nhiều nền kinh tế khác, một phần do tác động chậm trễ của cơ chế tính giá điện trong nước mà còn do tác động của hoạt động thương mại hậu Brexit, chỉ việc Anh rời Liên minh châu Âu.
Bên cạnh đó, việc thiếu lao động thường xuyên để lấp đầy các vị trí tuyển dụng đang khiến BoE quan ngại, bởi nó có thể dẫn đến việc tăng lương và biến lạm phát tăng cao trở thành một vấn đề nan giải hơn.
Sự sụt giảm giá trị của đồng bảng Anh trong những tuần gần đây, gây ra phần lớn bởi những đồn đoán xung quanh việc nâng lãi suất tại Mỹ và Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone), qua đó càng tăng thêm áp lực lạm phát tại Anh.
BoE cũng hạ mức dự báo ngắn hạn cho tăng trưởng kinh tế Anh, cho rằng kinh tế nước này sẽ giảm 0,3% trong quý 2 năm 2022, đảo ngược so với dự báo tăng trưởng 0,1% được đưa ra hồi tháng Năm.
Động thái này diễn ra bất chấp các biện pháp do Bộ trưởng tài chính Anh Rishi Sunak đưa ra vào cuối tháng Năm nhằm giúp các hộ gia đình tại Anh bị ảnh hưởng bởi lạm phát tăng vọt.
BoE cho biết, các biện pháp này có thể giúp sản lượng kinh tế tăng 0,3% và đẩy lạm phát tăng 0,1 điểm phần trăm trong năm đầu tiên thực hiện./.



