Môi giới không còn là động lực thúc đẩy lợi nhuận các công ty chứng khoán (CTCK), mà tập trung ở 3 trụ cột gồm cho vay ký quỹ, tự doanh và ngân hàng đầu tư (IB). Trong đó, sự đột biến lợi nhuận thường đến từ mảng tự doanh, còn IB có sự phân hoá mạnh.
Cũng bởi vậy, mỗi khi thị trường hồi phục và tăng trưởng cả về thanh khoản và điểm số, thì việc soi danh mục tự doanh CTCK trở thành “phản xạ” của nhiều nhà đầu tư, bởi với họ, đây là một trong những chỉ báo sớm về lợi nhuận của các quý tới của CTCK.
Cũng bởi sự kỳ vọng này, cộng thêm hoạt động cho vay margin được đẩy mạnh hơn (nhờ điều kiện thị trường tốt lên), nhóm cổ phiếu chứng khoán đã phản ánh ngay qua diễn biến tăng giá ấn tượng trong suốt giai đoạn thị trường hồi phục tốt từ cuối tháng 5 đến nay. Thực tế lợi nhuận quý 2/2023 của nhiều CTCK cải thiện đáng kể so với quý 1/2023 ở hầu hết các mảng hoạt động kinh doanh.
Câu chuyện tiếp theo, nhiều nhà đầu tư đang tập trung phân tích các con số từ báo cáo tài chính bán niên, đặc biệt nhất là ở danh mục tự doanh (bên cạnh mảng margin) nhằm tìm kiếm cơ hội cho vòng tiếp theo. Dĩ nhiên, dự báo lãi/lỗ tự doanh không hề dễ dàng, nhưng nếu “đặt cược” cho xu hướng tăng của thị trường trong nửa cuối năm, không thể không chú ý đến yếu tố này, bởi CTCK vốn được xem là nhà đầu tư tổ chức có độ nhạy bén trên thị trường, theo đó kỳ vọng hiệu suất đầu tư cũng có sự vượt trội hơn so với đà tăng chung.
Logic thông thường của nhiều nhà đầu tư, thanh khoản thị trường tăng, CTCK thu được nhiều phí hơn, tương ứng doanh thu môi giới tăng cao (chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu) - cổ phiếu chứng khoán trước mắt sẽ “chạy” nhờ diễn biến này. Tuy nhiên, chưa chắc có sự đồng thuận về tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của mảng môi giới.
Bóc tách cơ cấu lợi nhuận của CTCK cũng cho thấy đặc điểm chung, phần lớn lợi nhuận không đến từ nghiệp vụ môi giới thông thường, chưa kể câu chuyện cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi “phí môi giới tiến bước về 0” lại càng khiến biên lợi nhuận của mảng hoạt động này co hẹp.
Margin cũng là mảng hoạt động mang lại lợi nhuận tốt, nhưng tuỳ thuộc vào quy mô vốn, chính sách quản trị rủi ro của từng CTCK sẽ quyết định con số lợi nhuận của mảng này. Với các CTCK có lợi thế về khách hàng cá nhân, dư địa gia tăng cho vay margin sẽ là một trong những yếu tố giúp công ty đó cải thiện về lợi nhuận.
Tuy nhiên, cả 2 mảng trên không thể mang đến lợi nhuận “gấp đôi, gấp ba” cho khối công ty chứng khoán. Thị giá cổ phiếu các CTCK thường “bốc đầu” bởi một nghiệp vụ khác, có khả năng tạo ra lợi nhuận đột biến hơn, đó là tự doanh.
Nguồn dữ liệu: Tác giả tổng hợp từ BCTC các CTCK
Nhìn vào danh mục tự doanh trong quý 2/2023 của các CTCK hàng đầu hiện nay đều là những con số khổng lồ vài nghìn đến vài chục ngàn tỷ đồng như: SSI (31.451 tỷ đồng), VND (25.8127 tỷ đồng), TCBS (15.451 tỷ đồng)…,và đây cũng là một trong những lý do mỗi khi sóng ngành CTCK chạy, thì những cái tên hàng đầu như SSI, VND, VCI sẽ được nhắc đến đầu tiên (trừ VPS và TCBS chưa niêm yết).
Giả định khi thị trường tăng điểm, nhiều nhà đầu tư làm phép toán đơn giản: lấy mức tăng của index nhân với độ lớn của danh mục tự doanh sẽ ra ngay một con số lợi nhuận ước tính. Chẳng hạn, tự doanh của SSI trong báo cáo bán niên 2023 có 31.451 tỷ đồng, nếu lấy số này nhân với số tăng của VN-Index từ cuối quý 2 đến hôm nay là 6% thì ra được số ước tính 1.887 tỷ đồng lợi nhuận. Việc tính “nhẩm nhanh” như thế luôn gây “phấn khích” cho rất nhiều nhà đầu tư, nhất là những phiên cần “hành động nhanh nếu không muốn tiếc nuối vì hàng đã tăng”.
Tuy nhiên, gần như cách tính này sẽ “việt vị” nếu không đi “nội soi” danh mục. Hãy cùng soi thử danh mục tự doanh của vài CTCK có thị phần môi giới lớn và đang niêm yết xem thử mức độ hấp dẫn thế nào và chiến lược kinh doanh của họ ra sao?
FVTPL, HTM, AFS: Chìa khóa để hiểu danh mục tự doanh
Danh mục tự doanh các CTCK chủ yếu nằm trong 3 khoản mục chính là: FVTPL, HTM và AFS.
Định nghĩa và cách sử dụng các khoản mục này được quy định rất rõ trong Thông tư 334/2016/TT-BTC.
Hiểu một cách đơn giản, FVTPL (Fair Value Through Profit and Loss) là tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ, được hạch toán theo giá trị thị trường và đánh giá lại tài sản trên bảng kết quả kinh doanh vào mỗi kỳ báo cáo.
AFS (Available for Sale) là tài sản tài chính sẵn sàng để bán. Khác với FVTPL, lãi/lỗ chưa thực hiện của AFS sẽ không hạch toán trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh mà sẽ đi vào bảng có tên “báo cáo thu nhập toàn diện khác”. Sau đó được ghi nhận trực tiếp vào mục “đánh giá lại tài sản” trong phần vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Lãi chưa thực hiện (thị giá cao hơn giá vốn) sẽ không được ghi nhận vào lợi nhuận. Đến khi chứng khoán được bán thì khoản lãi này mới được ghi nhận vào lợi nhuận trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh.
HTM là đơn giản nhất, là các khoản tài sản tài chính nắm giữ đến ngày đáo hạn, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng.
Tự doanh của các CTCK có sự khác biệt về cách phân bổ tài sản, chiến lược giao dịch, và được thể hiện phần nào qua 3 khoản mục này.
Các khoản mục tự doanh của một số CTCK lớn. Nguồn: Phòng môi giới ABS - Vietcap tổng hợp BCTC quý 2/2023
VietCap (VCI): “Ông trùm” của đầu tư dài hạn
Trong danh mục của những CTCK có thị phần lớn nhất, chỉ có VCI và TCBS có chiến lược đầu tư dài hạn rõ rệt, với tỷ trọng AFS lần lượt là là 85% và 96%. Xét về góc độ niêm yết, VCI là “ông trùm” của chiến lược đầu tư dài hạn trên sàn chứng khoán với danh mục AFS giá gốc lên tới 3.507 tỷ đồng.
Như đã nói ở trên, AFS không hạch toán lãi/lỗ trên báo cáo kết quả kinh doanh, nếu có thay đổi, chỉ trên khoản mục “báo cáo thu nhập toàn diện khác” cho đến khi thực sự tất toán khoản đầu tư, nên AFS là của để dành của CTCK trong dài hạn, nếu danh mục tốt.
Báo cáo bán niên của VCI cho thấy, tại thời điểm 30/6/2023, giá trị thị trường của danh mục AFS lên đến 5.892 tỷ đồng, tăng hơn 2.450 tỷ đồng, tương ứng tăng 68% so với giá gốc.
Đặc biệt là khoản đầu tư “siêu việt” vào cổ phiếu IDP với 441 tỷ đồng giá gốc, nếu chốt lời thì có thể thu về ngay 2.652 tỷ đồng, tương ứng lời 600% - con số rất ấn tượng cho hoạt động tự doanh. VCI luôn làm cho các nhà đầu tư “tò mò” với các khoản đầu tư của mình. Bởi vậy, giá cổ phiếu VCI luôn biến động và được quan tâm mỗi khi có tin đồn về “hoạt động của tự doanh VCI, cầm cổ phiếu nào, đã chốt lời xong chưa hay vào được deal nào mới? Cổ phiếu VCI cũng vì như thế mà trở thành một trong những gương mặt “đại điện” cho sóng ngành chứng khoán, mặc dù thị phần môi giới chỉ ở mức vừa phải.
Danh mục đầu tư của VietCap (VCI). BTCT quý 2/2023 CTCK Vietcap
SSI: Danh mục khổng lồ, an toàn với lợi nhuận gần như “dự báo trước”
Gần như các CTCK đã niêm yết còn lại tập trung giao dịch ngắn hạn, thể hiện qua tỷ trọng FVTPL lớn, ở SSI (84%), VNDS (81%), VPS (86%), VCBS (98%), HCM (100%), FTS (100%).
FVTPL tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh, do vậy, các dự báo về lợi nhuận sẽ tập trung vào khoản mục này.
Rổ tài sản 26.529 tỷ đồng FVTPL của SSI phân bổ với tỷ trọng: 59% chứng chỉ tiền gởi, 37% trái phiếu, 4% cổ phiếu, cho thấy hoạt động tự doanh của SSI thiên về các khoản lãi cố định hơn “lướt sóng kiếm lời”, tới gần 15.559 tỷ đồng là chứng chỉ tiền gửi. Danh mục cổ phiếu chỉ có 4% và tập trung vào 1 cổ phiếu là SGN, với tổng giá trị theo sổ sách là 435 tỷ đồng, chiếm 84% giá trị danh mục cổ phiếu.
Nếu nhà đầu tư dự báo SSI chốt lời cổ phiếu này thông qua khớp lệnh năm nay, e rằng phải bán rả rích rất nhiều phiên, bởi thanh khoản SGN kém, chỉ vỏn vẹn bình quân 13.000 đơn vị/phiên, hoặc chỉ có thể bán nhanh nếu có giao dịch thoả thuận. Quả thật, ngày 9/8 SSI đã thông báo bán thỏa thuận 2,35 triệu cổ phiếu SGN, chỉ còn giữ hơn 3,37 triệu cổ phiếu (10,06%). Với giá chênh lệch của ngày 30/6 (73.800 đồng/CP) và giá thỏa thuận 75.500 đồng/CP, SSI thu về thêm được 4 tỷ đồng.
Với rổ trái phiếu chiếm 37% FVTPL, khoảng 9.885 tỷ đồng (đa phần thuyết minh BCTC của các CTCK thể hiện rõ ràng đó là những trái phiếu nào), tuy nhiên, khó có thể kiếm lời nhiều trong thị trường trái phiếu hiện nay. Thậm chí, các CTCK có danh mục trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn sẽ gặp áp lực rủi ro nếu nắm giữ danh mục trái phiếu của các doanh nghiệp không thể xoay sở “dòng tiền”.
Tóm lại, với danh mục “size khổng lồ”, SSI gần như sẽ có lợi nhuận được “dự báo trước” – có sự ổn định, an toàn nhưng khó có lợi nhuận đột biến.
Danh mục đầu tư của SSI tính tới 30/6/2023.
VNDirect (VND): Tỷ trọng lớn cho đầu tư trái phiếu
Danh mục FVTPL của VND cho thấy một chiến lược tự doanh khác biệt: tập trung vào trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu chưa niêm yết. Cơ cấu FVTPL của VND gồm 49% trái phiếu, 41% tiền gửi, 8% cổ phiếu, 1% chứng quyền và chứng chỉ quỹ. Tổng trị giá trái phiếu chưa niêm yết tại thời điểm cuối quý 2/2023 của VND là 9.345 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng hơn 90% trong danh mục trái phiếu, tương ứng khoảng 60% vốn chủ sở hữu.
Như đã nói ở trên, BCTC của hầu hết các CTCK không thuyết minh chi tiết các danh mục trái phiếu nên không thể đánh giá chính xác cơ hội cũng như rủi ro. Đặt giả định, danh mục trái phiếu mà VND nắm giữ hoàn toàn không rủi ro thì chỉ có thể thu được lợi suất đầu tư bình quân từ 8% đến 14% (cũng là mức hiệu suất bình quân của thị trường trái phiếu hiện nay).
Về danh mục cổ phiếu của VND khá đa dạng, với 1.338 tỷ đồng phân bổ 37% cho bảo hiểm (PTI), 37,2% ngân hàng (VPB, VCB, STB), 26% đầu tư công (C4G), còn lại là thép (HSG), gạo (LTG). Với diễn biến giá cổ phiếu như trong thời gian vừa qua, danh mục này khó có lãi lớn, đặc biệt là cổ phiếu PTI, nếu VND có kế hoạch hiện thực hoá lợi nhuận sẽ gặp vấn đề - tương tự như SGN của SSI – đó là PTI không có thanh khoản.
Tóm lại, danh mục VND có thể rủi ro bởi trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư. Bên cạnh đó, danh mục cổ phiếu sẽ không tạo ra lợi nhuận đột biến nếu xét theo độ tăng giá của các cổ phiếu riêng lẻ trong danh mục trong thời gian vừa qua.
Danh mục đầu tư của VNDirect đến 30/6/2023.
Chứng khoán HSC (HCM): Danh mục tự doanh theo “phí chắc chắn”
Trong tất cả các danh mục tự doanh CTCK hàng đầu trong nước được liệt kê, có lẽ “ngại rủi ro” thuộc về HCM, với 1.864 tỷ đồng FVTPL, không hề có HTM và AFS. Tỷ trọng trong FVTPL bao gồm: 5% cổ phiếu, 68% trái phiếu, 27% chứng quyền, ETF.
Với tỷ trọng này, có thể nhận định HCM tập trung chiến lược vào trái phiếu. Soi kỹ 1.200 tỷ đồng trái phiếu là trái phiếu BIDV, có độ an toàn rất cao và lãi suất không mấy hấp dẫn, khoảng 8% năm. Còn lại danh mục tập trung vào cho các hoạt động phát hành ETF và CW trị giá gần 400 tỷ đồng. HCM đang là đại lý cho VFMDIAMOND ETF, ETF VFMVN30, MAFMVN30 ETF, MIDCAP, ETF SSIAMVNX50.
Do vậy, nếu chỉ nhìn con số và thuyết minh trên BCTC, có thể tạm kết luận tự doanh của HCM cũng sẽ không có lợi nhuận đột biến. Trong điều kiện ETF sôi động thì HCM mới có dư địa tăng trưởng lợi nhuận.
Danh mục đầu tư của HSC đến 30/6/2023.
VietinBank Securities (CTS) mang danh mục nắm giữ nhiều năm ra chốt lời, chốt bán cổ phiếu Thaco với giá 30.000 đồng/cp
Trong quý vừa qua, VietinBank Securities báo lãi trước thuế hơn 94,5 tỷ đồng trong đó hơn 170 tỷ đồng là lợi nhuận đã thực hiện trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ lãi hơn 3,9 tỷ đồng.
Trong các mảng kinh doanh cốt lõi của công ty, doanh thu từ nghiệp vụ môi giới đem lại gần 24,6 tỷ đồng trong quý II/2023, thấp hơn mức 26,2 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái. Đây là xu hướng đối lập với sự tăng trưởng mạnh của nhiều công ty chứng khoán trên sàn khi thanh khoản thị trường tăng vọt.
Hoạt động cho vay đem lại gần 55,5 tỷ đồng doanh thu trong quý, trong khi chi phí lãi vay của công ty gần gấp đôi cùng kỳ, ghi nhận hơn 83,2 tỷ đồng.
Trong bối cảnh các nghiệp vụ không đem lại lợi nhuận, mảng tự doanh “cứu cánh” kết quả kinh doanh quý II của VietinBank Securities. Trong khi nhiều khoản đầu tư vào các cổ phiếu vốn hóa lớn trên sàn đang lỗ, công ty thực hiện chốt lời nhiều mã trong danh mục đã nắm giữ nhiều năm trước đó.
VietinBank Securities chốt lời khoản đầu tư nắm giữ nhiều năm. Nguồn: BCTC quý II/2023.
Cụ thể trong quý vừa qua, việc bán cổ phiếu đem lãi hơn 140 tỷ đồng lợi nhuận cho VietinBank Securities. Đối lập, giao dịch hàng chục nghìn tỷ đồng trái phiếu đem lại lợi nhuận gần 8 tỷ đồng cho công ty.
Ghi nhận trong quý II, VietinBank Securities bán ra gần 5,2 triệu cổ phiếu với giá hơn 88,7 tỷ đồng và đem lại lợi nhuận 25,8 tỷ đồng. Hầu hết lợi nhuận đến từ cổ phiếu HDC của CTCP Phát triển nhà Bà Rịa – Vũng Tàu. Cuối quý II/2023, VietinBank Securities không còn nắm giữ cổ phiếu này trong danh mục đầu tư. Đây là cổ phiếu niêm yết tiếp theo được công ty tất toán sau khoản đầu tư lớn như CVT của CTCP CMC.
Trong những phiên gần đây, cổ phiếu HDC nổi sóng tăng giá mạnh từ hơn 29.000 đồng/cp lên gần 39.000 đồng/cp với nhiều phiên kịch trần.
Tuy nhiên, khoản chốt lời lớn nhất của VietinBank Securities đến từ cổ phiếu chưa niêm yết.Công ty bán ra 4,7 triệu cp với giá 141 tỷ đồng và đem lại lợi nhuận hơn 116,9 tỷ đồng. So sánh với sự sụt giảm giá vốn đầu tư. Đây chính là khoản đầu tư vào cổ phiếu của CTCP Ô tô Trường Hải (Thaco).
Như vậy, VietinBank Securities đã chốt lãi một phần cổ phiếu Thaco với giá 30.000 đồng/cp sau nhiều năm nắm giữ. Mức giá này thấp hơn đáng kể thời điểm tổ chức thành viên của Jardine Matheson (Singapore) là Jardine Cycle & Carriage Limited (JC&C) mua phát hành riêng lẻ (1,34% vốn) của của Thaco với giá 128.500 đồng/cp.
Hầu hết khoản tự doanh mở mua mới củaVietinBank Securities đang thua lỗ. Ảnh: BCTC quý II/2023.
Về danh mục cổ phiếu chưa niêm yết, sau khi bán chốt lời cổ phiếu của Thaco, VietinBank Securities rót tiền vào một cổ phiếu khác cũng liên quan đến “nhóm Gelex” là cổ phiếu của CTCP Thiết bị điện GELEX (67,5 tỷ đồng) và đang lỗ, cùng với cổ phiếu VIX của Chứng khoán VIX (75,3 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, giá trị khoản đầu tư trái phiếu chưa niêm yết của VietinBank Securities cũng tăng trong quý vừa qua. Trong danh mục FVTPL, giá trị đầu tư trái phiếu chưa niêm yết tăng từ hơn 349,6 tỷ đồng lên hơn 529,6 tỷ đồng.
Chứng khoán FPT (FTS), trong quý 2 công ty này cũng ghi nhận khoản lãi ngoạn mục nhờ nghiệp vụ tự doanh.
Nếu như quý 2 năm ngoái FTS báo lỗ nghiệp vụ tự doanh 53 tỷ đồng thì năm nay đảo chiều báo lãi 50 tỷ đồng trong bối cảnh hầu hết các nghiệp vụ còn lại đều ghi nhận doanh thu giảm như môi giới giảm 28% còn 78 tỷ đồng, Cho vay giảm 20,7% còn 111 tỷ đồng.
Sau khi trừ chi phí hoạt động, FTS báo lãi trước thuế 168 tỷ đồng tăng 50% so với cùng kỳ năm ngoái đạt 168 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm, FTS vẫn báo lãi giảm mạnh so với năm ngoái đạt 266 tỷ đồng chủ yếu do quý 1 tình hình kinh doanh vẫn kém tích cực do thị trường xấu.
Danh mục đầu tư cổ phiếu niêm yết của FTS hiện có 13,4 tỷ đồng mua cổ phiếu MSN, 2 tỷ đồng cổ phiếu CIC8 chưa niêm yết, ngoài ra FTS còn mua 70 tỷ đồng trái phiếu của Ngân hàng công thương; 846 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi.
Cổ phiếu ngành chứng khoán có đang “bị định giá cao”?
Cổ phiếu ngành chứng khoán trong thời gian vừa qua vô cùng sôi động. Như đã nói ở trên, lãi suất giảm khiến dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán nhiều hơn, thanh khoản sôi nổi hơn, CTCK cải thiện nguồn từ thu phí, cho vay margin, tự doanh nhiều đất diễn hơn, kéo lợi nhuận công ty chứng khoán sẽ tăng. Và tất nhiên, giá cổ phiếu vì thế cũng tăng theo kỳ vọng tăng lợi nhuận công ty.
Tuy nhiên, cũng như phân tích ở trên, cho dù CTCK có lợi khi lãi suất giảm thì tự doanh, vốn là một trong những trụ cột chính tạo ra lợi nhuận đột biến cho CTCK lại không thể tạo ra “kỳ tích” trong năm nay với cấu trúc danh mục như hiện tại.
Đối với thị trường thiếu động lực tăng trưởng, nhà đầu tư thường nhìn vào PB để quyết định “mắc, rẻ”. Với PB ngành hiện nay khoảng 1,6 lần, thấp hơn PB VN-Index (1,8 lần) thì có thể hiểu rằng, giá trị của các CTCK vẫn rẻ hơn so với tài sản của thị trường chung, mặc dù giá cổ phiếu đã tăng khá nhiều, và đây cũng là lý do khiến nhiều cổ phiếu vẫn có dấu hiệu tăng tiếp, mặc dù khoảng cách PB ngành và index không còn xa nhau là mấy.
Tuy nhiên, nếu dùng chỉ số PE để xem xét động lực tăng trưởng thì sẽ có một bức tranh hoàn toàn khác hẳn. PE của ngành chứng khoán trong giai đoạn VN-Index 1.500 điểm là khoảng 15, thì hiện này, con số này là gấp 2 (gần 30), mặc dù VN-Index hiện nay đang ở mốc 1.190 điểm. Đây là lý do khiến cho nhiều nhà đầu tư “chùng tay” và kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ được điều chỉnh ở mức hợp lý hơn. Do vậy, vẫn có thể tìm cơ hội ở cổ phiếu chứng khoán nhưng nhà đầu tư cũng cần tỉnh táo trong mỗi con sóng để có hành động giao dịch thích hợp.
Môi giới không còn là động lực thúc đẩy lợi nhuận các công ty chứng khoán (CTCK), mà tập trung ở 3 trụ cột gồm cho vay ký quỹ, tự doanh và ngân hàng đầu tư (IB). Trong đó, sự đột biến lợi nhuận thường đến từ mảng tự doanh, còn IB có sự phân hoá mạnh.
Cũng bởi vậy, mỗi khi thị trường hồi phục và tăng trưởng cả về thanh khoản và điểm số, thì việc soi danh mục tự doanh CTCK trở thành “phản xạ” của nhiều nhà đầu tư, bởi với họ, đây là một trong những chỉ báo sớm về lợi nhuận của các quý tới của CTCK.
Cũng bởi sự kỳ vọng này, cộng thêm hoạt động cho vay margin được đẩy mạnh hơn (nhờ điều kiện thị trường tốt lên), nhóm cổ phiếu chứng khoán đã phản ánh ngay qua diễn biến tăng giá ấn tượng trong suốt giai đoạn thị trường hồi phục tốt từ cuối tháng 5 đến nay. Thực tế lợi nhuận quý 2/2023 của nhiều CTCK cải thiện đáng kể so với quý 1/2023 ở hầu hết các mảng hoạt động kinh doanh.
Câu chuyện tiếp theo, nhiều nhà đầu tư đang tập trung phân tích các con số từ báo cáo tài chính bán niên, đặc biệt nhất là ở danh mục tự doanh (bên cạnh mảng margin) nhằm tìm kiếm cơ hội cho vòng tiếp theo. Dĩ nhiên, dự báo lãi/lỗ tự doanh không hề dễ dàng, nhưng nếu “đặt cược” cho xu hướng tăng của thị trường trong nửa cuối năm, không thể không chú ý đến yếu tố này, bởi CTCK vốn được xem là nhà đầu tư tổ chức có độ nhạy bén trên thị trường, theo đó kỳ vọng hiệu suất đầu tư cũng có sự vượt trội hơn so với đà tăng chung.
Logic thông thường của nhiều nhà đầu tư, thanh khoản thị trường tăng, CTCK thu được nhiều phí hơn, tương ứng doanh thu môi giới tăng cao (chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu) - cổ phiếu chứng khoán trước mắt sẽ “chạy” nhờ diễn biến này. Tuy nhiên, chưa chắc có sự đồng thuận về tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của mảng môi giới.
Bóc tách cơ cấu lợi nhuận của CTCK cũng cho thấy đặc điểm chung, phần lớn lợi nhuận không đến từ nghiệp vụ môi giới thông thường, chưa kể câu chuyện cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi “phí môi giới tiến bước về 0” lại càng khiến biên lợi nhuận của mảng hoạt động này co hẹp.
Margin cũng là mảng hoạt động mang lại lợi nhuận tốt, nhưng tuỳ thuộc vào quy mô vốn, chính sách quản trị rủi ro của từng CTCK sẽ quyết định con số lợi nhuận của mảng này. Với các CTCK có lợi thế về khách hàng cá nhân, dư địa gia tăng cho vay margin sẽ là một trong những yếu tố giúp công ty đó cải thiện về lợi nhuận.
Tuy nhiên, cả 2 mảng trên không thể mang đến lợi nhuận “gấp đôi, gấp ba” cho khối công ty chứng khoán. Thị giá cổ phiếu các CTCK thường “bốc đầu” bởi một nghiệp vụ khác, có khả năng tạo ra lợi nhuận đột biến hơn, đó là tự doanh.
Nguồn dữ liệu: Tác giả tổng hợp từ BCTC các CTCK
Nhìn vào danh mục tự doanh trong quý 2/2023 của các CTCK hàng đầu hiện nay đều là những con số khổng lồ vài nghìn đến vài chục ngàn tỷ đồng như: SSI (31.451 tỷ đồng), VND (25.8127 tỷ đồng), TCBS (15.451 tỷ đồng)…,và đây cũng là một trong những lý do mỗi khi sóng ngành CTCK chạy, thì những cái tên hàng đầu như SSI, VND, VCI sẽ được nhắc đến đầu tiên (trừ VPS và TCBS chưa niêm yết).
Giả định khi thị trường tăng điểm, nhiều nhà đầu tư làm phép toán đơn giản: lấy mức tăng của index nhân với độ lớn của danh mục tự doanh sẽ ra ngay một con số lợi nhuận ước tính. Chẳng hạn, tự doanh của SSI trong báo cáo bán niên 2023 có 31.451 tỷ đồng, nếu lấy số này nhân với số tăng của VN-Index từ cuối quý 2 đến hôm nay là 6% thì ra được số ước tính 1.887 tỷ đồng lợi nhuận. Việc tính “nhẩm nhanh” như thế luôn gây “phấn khích” cho rất nhiều nhà đầu tư, nhất là những phiên cần “hành động nhanh nếu không muốn tiếc nuối vì hàng đã tăng”.
Tuy nhiên, gần như cách tính này sẽ “việt vị” nếu không đi “nội soi” danh mục. Hãy cùng soi thử danh mục tự doanh của vài CTCK có thị phần môi giới lớn và đang niêm yết xem thử mức độ hấp dẫn thế nào và chiến lược kinh doanh của họ ra sao?
FVTPL, HTM, AFS: Chìa khóa để hiểu danh mục tự doanh
Danh mục tự doanh các CTCK chủ yếu nằm trong 3 khoản mục chính là: FVTPL, HTM và AFS.
Định nghĩa và cách sử dụng các khoản mục này được quy định rất rõ trong Thông tư 334/2016/TT-BTC.
Hiểu một cách đơn giản, FVTPL (Fair Value Through Profit and Loss) là tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ, được hạch toán theo giá trị thị trường và đánh giá lại tài sản trên bảng kết quả kinh doanh vào mỗi kỳ báo cáo.
AFS (Available for Sale) là tài sản tài chính sẵn sàng để bán. Khác với FVTPL, lãi/lỗ chưa thực hiện của AFS sẽ không hạch toán trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh mà sẽ đi vào bảng có tên “báo cáo thu nhập toàn diện khác”. Sau đó được ghi nhận trực tiếp vào mục “đánh giá lại tài sản” trong phần vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Lãi chưa thực hiện (thị giá cao hơn giá vốn) sẽ không được ghi nhận vào lợi nhuận. Đến khi chứng khoán được bán thì khoản lãi này mới được ghi nhận vào lợi nhuận trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh.
HTM là đơn giản nhất, là các khoản tài sản tài chính nắm giữ đến ngày đáo hạn, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng.
Tự doanh của các CTCK có sự khác biệt về cách phân bổ tài sản, chiến lược giao dịch, và được thể hiện phần nào qua 3 khoản mục này.
Các khoản mục tự doanh của một số CTCK lớn. Nguồn: Phòng môi giới ABS - Vietcap tổng hợp BCTC quý 2/2023
VietCap (VCI): “Ông trùm” của đầu tư dài hạn
Trong danh mục của những CTCK có thị phần lớn nhất, chỉ có VCI và TCBS có chiến lược đầu tư dài hạn rõ rệt, với tỷ trọng AFS lần lượt là là 85% và 96%. Xét về góc độ niêm yết, VCI là “ông trùm” của chiến lược đầu tư dài hạn trên sàn chứng khoán với danh mục AFS giá gốc lên tới 3.507 tỷ đồng.
Như đã nói ở trên, AFS không hạch toán lãi/lỗ trên báo cáo kết quả kinh doanh, nếu có thay đổi, chỉ trên khoản mục “báo cáo thu nhập toàn diện khác” cho đến khi thực sự tất toán khoản đầu tư, nên AFS là của để dành của CTCK trong dài hạn, nếu danh mục tốt.
Báo cáo bán niên của VCI cho thấy, tại thời điểm 30/6/2023, giá trị thị trường của danh mục AFS lên đến 5.892 tỷ đồng, tăng hơn 2.450 tỷ đồng, tương ứng tăng 68% so với giá gốc.
Đặc biệt là khoản đầu tư “siêu việt” vào cổ phiếu IDP với 441 tỷ đồng giá gốc, nếu chốt lời thì có thể thu về ngay 2.652 tỷ đồng, tương ứng lời 600% - con số rất ấn tượng cho hoạt động tự doanh. VCI luôn làm cho các nhà đầu tư “tò mò” với các khoản đầu tư của mình. Bởi vậy, giá cổ phiếu VCI luôn biến động và được quan tâm mỗi khi có tin đồn về “hoạt động của tự doanh VCI, cầm cổ phiếu nào, đã chốt lời xong chưa hay vào được deal nào mới? Cổ phiếu VCI cũng vì như thế mà trở thành một trong những gương mặt “đại điện” cho sóng ngành chứng khoán, mặc dù thị phần môi giới chỉ ở mức vừa phải.
Danh mục đầu tư của VietCap (VCI). BTCT quý 2/2023 CTCK Vietcap
SSI: Danh mục khổng lồ, an toàn với lợi nhuận gần như “dự báo trước”
Gần như các CTCK đã niêm yết còn lại tập trung giao dịch ngắn hạn, thể hiện qua tỷ trọng FVTPL lớn, ở SSI (84%), VNDS (81%), VPS (86%), VCBS (98%), HCM (100%), FTS (100%).
FVTPL tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh, do vậy, các dự báo về lợi nhuận sẽ tập trung vào khoản mục này.
Rổ tài sản 26.529 tỷ đồng FVTPL của SSI phân bổ với tỷ trọng: 59% chứng chỉ tiền gởi, 37% trái phiếu, 4% cổ phiếu, cho thấy hoạt động tự doanh của SSI thiên về các khoản lãi cố định hơn “lướt sóng kiếm lời”, tới gần 15.559 tỷ đồng là chứng chỉ tiền gửi. Danh mục cổ phiếu chỉ có 4% và tập trung vào 1 cổ phiếu là SGN, với tổng giá trị theo sổ sách là 435 tỷ đồng, chiếm 84% giá trị danh mục cổ phiếu.
Nếu nhà đầu tư dự báo SSI chốt lời cổ phiếu này thông qua khớp lệnh năm nay, e rằng phải bán rả rích rất nhiều phiên, bởi thanh khoản SGN kém, chỉ vỏn vẹn bình quân 13.000 đơn vị/phiên, hoặc chỉ có thể bán nhanh nếu có giao dịch thoả thuận. Quả thật, ngày 9/8 SSI đã thông báo bán thỏa thuận 2,35 triệu cổ phiếu SGN, chỉ còn giữ hơn 3,37 triệu cổ phiếu (10,06%). Với giá chênh lệch của ngày 30/6 (73.800 đồng/CP) và giá thỏa thuận 75.500 đồng/CP, SSI thu về thêm được 4 tỷ đồng.
Với rổ trái phiếu chiếm 37% FVTPL, khoảng 9.885 tỷ đồng (đa phần thuyết minh BCTC của các CTCK thể hiện rõ ràng đó là những trái phiếu nào), tuy nhiên, khó có thể kiếm lời nhiều trong thị trường trái phiếu hiện nay. Thậm chí, các CTCK có danh mục trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn sẽ gặp áp lực rủi ro nếu nắm giữ danh mục trái phiếu của các doanh nghiệp không thể xoay sở “dòng tiền”.
Tóm lại, với danh mục “size khổng lồ”, SSI gần như sẽ có lợi nhuận được “dự báo trước” – có sự ổn định, an toàn nhưng khó có lợi nhuận đột biến.
Danh mục đầu tư của SSI tính tới 30/6/2023.
VNDirect (VND): Tỷ trọng lớn cho đầu tư trái phiếu
Danh mục FVTPL của VND cho thấy một chiến lược tự doanh khác biệt: tập trung vào trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu chưa niêm yết. Cơ cấu FVTPL của VND gồm 49% trái phiếu, 41% tiền gửi, 8% cổ phiếu, 1% chứng quyền và chứng chỉ quỹ. Tổng trị giá trái phiếu chưa niêm yết tại thời điểm cuối quý 2/2023 của VND là 9.345 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng hơn 90% trong danh mục trái phiếu, tương ứng khoảng 60% vốn chủ sở hữu.
Như đã nói ở trên, BCTC của hầu hết các CTCK không thuyết minh chi tiết các danh mục trái phiếu nên không thể đánh giá chính xác cơ hội cũng như rủi ro. Đặt giả định, danh mục trái phiếu mà VND nắm giữ hoàn toàn không rủi ro thì chỉ có thể thu được lợi suất đầu tư bình quân từ 8% đến 14% (cũng là mức hiệu suất bình quân của thị trường trái phiếu hiện nay).
Về danh mục cổ phiếu của VND khá đa dạng, với 1.338 tỷ đồng phân bổ 37% cho bảo hiểm (PTI), 37,2% ngân hàng (VPB, VCB, STB), 26% đầu tư công (C4G), còn lại là thép (HSG), gạo (LTG). Với diễn biến giá cổ phiếu như trong thời gian vừa qua, danh mục này khó có lãi lớn, đặc biệt là cổ phiếu PTI, nếu VND có kế hoạch hiện thực hoá lợi nhuận sẽ gặp vấn đề - tương tự như SGN của SSI – đó là PTI không có thanh khoản.
Tóm lại, danh mục VND có thể rủi ro bởi trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư. Bên cạnh đó, danh mục cổ phiếu sẽ không tạo ra lợi nhuận đột biến nếu xét theo độ tăng giá của các cổ phiếu riêng lẻ trong danh mục trong thời gian vừa qua.
Danh mục đầu tư của VNDirect đến 30/6/2023.
Chứng khoán HSC (HCM): Danh mục tự doanh theo “phí chắc chắn”
Trong tất cả các danh mục tự doanh CTCK hàng đầu trong nước được liệt kê, có lẽ “ngại rủi ro” thuộc về HCM, với 1.864 tỷ đồng FVTPL, không hề có HTM và AFS. Tỷ trọng trong FVTPL bao gồm: 5% cổ phiếu, 68% trái phiếu, 27% chứng quyền, ETF.
Với tỷ trọng này, có thể nhận định HCM tập trung chiến lược vào trái phiếu. Soi kỹ 1.200 tỷ đồng trái phiếu là trái phiếu BIDV, có độ an toàn rất cao và lãi suất không mấy hấp dẫn, khoảng 8% năm. Còn lại danh mục tập trung vào cho các hoạt động phát hành ETF và CW trị giá gần 400 tỷ đồng. HCM đang là đại lý cho VFMDIAMOND ETF, ETF VFMVN30, MAFMVN30 ETF, MIDCAP, ETF SSIAMVNX50.
Do vậy, nếu chỉ nhìn con số và thuyết minh trên BCTC, có thể tạm kết luận tự doanh của HCM cũng sẽ không có lợi nhuận đột biến. Trong điều kiện ETF sôi động thì HCM mới có dư địa tăng trưởng lợi nhuận.
Danh mục đầu tư của HSC đến 30/6/2023.
VietinBank Securities (CTS) mang danh mục nắm giữ nhiều năm ra chốt lời, chốt bán cổ phiếu Thaco với giá 30.000 đồng/cp
Trong quý vừa qua, VietinBank Securities báo lãi trước thuế hơn 94,5 tỷ đồng trong đó hơn 170 tỷ đồng là lợi nhuận đã thực hiện trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ lãi hơn 3,9 tỷ đồng.
Trong các mảng kinh doanh cốt lõi của công ty, doanh thu từ nghiệp vụ môi giới đem lại gần 24,6 tỷ đồng trong quý II/2023, thấp hơn mức 26,2 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái. Đây là xu hướng đối lập với sự tăng trưởng mạnh của nhiều công ty chứng khoán trên sàn khi thanh khoản thị trường tăng vọt.
Hoạt động cho vay đem lại gần 55,5 tỷ đồng doanh thu trong quý, trong khi chi phí lãi vay của công ty gần gấp đôi cùng kỳ, ghi nhận hơn 83,2 tỷ đồng.
Trong bối cảnh các nghiệp vụ không đem lại lợi nhuận, mảng tự doanh “cứu cánh” kết quả kinh doanh quý II của VietinBank Securities. Trong khi nhiều khoản đầu tư vào các cổ phiếu vốn hóa lớn trên sàn đang lỗ, công ty thực hiện chốt lời nhiều mã trong danh mục đã nắm giữ nhiều năm trước đó.
VietinBank Securities chốt lời khoản đầu tư nắm giữ nhiều năm. Nguồn: BCTC quý II/2023.
Cụ thể trong quý vừa qua, việc bán cổ phiếu đem lãi hơn 140 tỷ đồng lợi nhuận cho VietinBank Securities. Đối lập, giao dịch hàng chục nghìn tỷ đồng trái phiếu đem lại lợi nhuận gần 8 tỷ đồng cho công ty.
Ghi nhận trong quý II, VietinBank Securities bán ra gần 5,2 triệu cổ phiếu với giá hơn 88,7 tỷ đồng và đem lại lợi nhuận 25,8 tỷ đồng. Hầu hết lợi nhuận đến từ cổ phiếu HDC của CTCP Phát triển nhà Bà Rịa – Vũng Tàu. Cuối quý II/2023, VietinBank Securities không còn nắm giữ cổ phiếu này trong danh mục đầu tư. Đây là cổ phiếu niêm yết tiếp theo được công ty tất toán sau khoản đầu tư lớn như CVT của CTCP CMC.
Trong những phiên gần đây, cổ phiếu HDC nổi sóng tăng giá mạnh từ hơn 29.000 đồng/cp lên gần 39.000 đồng/cp với nhiều phiên kịch trần.
Tuy nhiên, khoản chốt lời lớn nhất của VietinBank Securities đến từ cổ phiếu chưa niêm yết.Công ty bán ra 4,7 triệu cp với giá 141 tỷ đồng và đem lại lợi nhuận hơn 116,9 tỷ đồng. So sánh với sự sụt giảm giá vốn đầu tư. Đây chính là khoản đầu tư vào cổ phiếu của CTCP Ô tô Trường Hải (Thaco).
Như vậy, VietinBank Securities đã chốt lãi một phần cổ phiếu Thaco với giá 30.000 đồng/cp sau nhiều năm nắm giữ. Mức giá này thấp hơn đáng kể thời điểm tổ chức thành viên của Jardine Matheson (Singapore) là Jardine Cycle & Carriage Limited (JC&C) mua phát hành riêng lẻ (1,34% vốn) của của Thaco với giá 128.500 đồng/cp.
Hầu hết khoản tự doanh mở mua mới củaVietinBank Securities đang thua lỗ. Ảnh: BCTC quý II/2023.
Về danh mục cổ phiếu chưa niêm yết, sau khi bán chốt lời cổ phiếu của Thaco, VietinBank Securities rót tiền vào một cổ phiếu khác cũng liên quan đến “nhóm Gelex” là cổ phiếu của CTCP Thiết bị điện GELEX (67,5 tỷ đồng) và đang lỗ, cùng với cổ phiếu VIX của Chứng khoán VIX (75,3 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, giá trị khoản đầu tư trái phiếu chưa niêm yết của VietinBank Securities cũng tăng trong quý vừa qua. Trong danh mục FVTPL, giá trị đầu tư trái phiếu chưa niêm yết tăng từ hơn 349,6 tỷ đồng lên hơn 529,6 tỷ đồng.
Chứng khoán FPT (FTS), trong quý 2 công ty này cũng ghi nhận khoản lãi ngoạn mục nhờ nghiệp vụ tự doanh.
Nếu như quý 2 năm ngoái FTS báo lỗ nghiệp vụ tự doanh 53 tỷ đồng thì năm nay đảo chiều báo lãi 50 tỷ đồng trong bối cảnh hầu hết các nghiệp vụ còn lại đều ghi nhận doanh thu giảm như môi giới giảm 28% còn 78 tỷ đồng, Cho vay giảm 20,7% còn 111 tỷ đồng.
Sau khi trừ chi phí hoạt động, FTS báo lãi trước thuế 168 tỷ đồng tăng 50% so với cùng kỳ năm ngoái đạt 168 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm, FTS vẫn báo lãi giảm mạnh so với năm ngoái đạt 266 tỷ đồng chủ yếu do quý 1 tình hình kinh doanh vẫn kém tích cực do thị trường xấu.
Danh mục đầu tư cổ phiếu niêm yết của FTS hiện có 13,4 tỷ đồng mua cổ phiếu MSN, 2 tỷ đồng cổ phiếu CIC8 chưa niêm yết, ngoài ra FTS còn mua 70 tỷ đồng trái phiếu của Ngân hàng công thương; 846 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi.
Cổ phiếu ngành chứng khoán có đang “bị định giá cao”?
Cổ phiếu ngành chứng khoán trong thời gian vừa qua vô cùng sôi động. Như đã nói ở trên, lãi suất giảm khiến dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán nhiều hơn, thanh khoản sôi nổi hơn, CTCK cải thiện nguồn từ thu phí, cho vay margin, tự doanh nhiều đất diễn hơn, kéo lợi nhuận công ty chứng khoán sẽ tăng. Và tất nhiên, giá cổ phiếu vì thế cũng tăng theo kỳ vọng tăng lợi nhuận công ty.
Tuy nhiên, cũng như phân tích ở trên, cho dù CTCK có lợi khi lãi suất giảm thì tự doanh, vốn là một trong những trụ cột chính tạo ra lợi nhuận đột biến cho CTCK lại không thể tạo ra “kỳ tích” trong năm nay với cấu trúc danh mục như hiện tại.
Đối với thị trường thiếu động lực tăng trưởng, nhà đầu tư thường nhìn vào PB để quyết định “mắc, rẻ”. Với PB ngành hiện nay khoảng 1,6 lần, thấp hơn PB VN-Index (1,8 lần) thì có thể hiểu rằng, giá trị của các CTCK vẫn rẻ hơn so với tài sản của thị trường chung, mặc dù giá cổ phiếu đã tăng khá nhiều, và đây cũng là lý do khiến nhiều cổ phiếu vẫn có dấu hiệu tăng tiếp, mặc dù khoảng cách PB ngành và index không còn xa nhau là mấy.
Tuy nhiên, nếu dùng chỉ số PE để xem xét động lực tăng trưởng thì sẽ có một bức tranh hoàn toàn khác hẳn. PE của ngành chứng khoán trong giai đoạn VN-Index 1.500 điểm là khoảng 15, thì hiện này, con số này là gấp 2 (gần 30), mặc dù VN-Index hiện nay đang ở mốc 1.190 điểm. Đây là lý do khiến cho nhiều nhà đầu tư “chùng tay” và kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ được điều chỉnh ở mức hợp lý hơn. Do vậy, vẫn có thể tìm cơ hội ở cổ phiếu chứng khoán nhưng nhà đầu tư cũng cần tỉnh táo trong mỗi con sóng để có hành động giao dịch thích hợp.
CTCK nào đang dẫn đầu về giá trị tự doanh cổ phiếu?
Với bối cảnh thị trường cổ phiếu vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh trong quý III (tính đến 11/9), việc nắm giữ danh mục cổ phiếu lớn có thể mở ra cơ hội kiếm lợi nhuận cho công ty chứng khoán (CTCK). Chứng khoán Vietcap, VIX và SHS là các đơn vị đang dẫn đầu về giá trị danh mục đầu tư cổ phiếu.
Thị trường cổ phiếu ghi nhận bước tiến mạnh mẽ trong những tháng đầu năm, VN-Index đã tăng hơn 11% trong 6 tháng đầu năm và tiếp tục nâng lên trên 21%, tính đến 11/9. Với bối cảnh thị trường vẫn đang tiếp tục khả quan trong quý III, việc nắm giữ danh mục cổ phiếu lớn có thể mở ra cơ hội lợi nhuận cho công ty chứng khoán (CTCK). Do đó, nhà đầu tư cũng quan tâm đến việc đơn vị nào đang đầu tư nhiều cổ phiếu, và danh mục cổ phiếu liệu có tiềm năng tăng trưởng, tạo ra lợi nhuận cho công ty trong thời gian tới.
Theo thống kê của người viết, Top10 CTCK có khoản tự doanh lớn nhất tại cuối tháng 6 đang nắm giữ khoảng 131.600 tỷ đồng, tương đương 66% (khoảng 2/3) giá trị tự doanh toàn ngành. Mảng tự doanh bao gồm tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL), các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (HTM) và các tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS).
Phần lớn danh mục tự doanh của các CTCK đều gồm các tài sản ít hoặc không biến động như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, công cụ thị trường tiền tệ, tiền gửi ngân hàng. Trong khi đó, phần cổ phiếu (nằm trong FVTPL/AFS) thường không chiếm tỷ lệ lớn.
Thời điểm 30/6, có 3 đơn vị đã phân bổ đến hơn 50% mảng tự doanh vào cổ phiếu gồm Chứng khoán Vietcap, SHS và VIX.
Theo giá trị tuyệt đối, Chứng khoán Vietcap (Mã: VCI) đanglà đơn vị sở hữu danh mục cổ phiếu tự doanh lớn nhất ngành, với 5.174 tỷ đồng tại cuối tháng 6 và chiếm đến 88% mảng tự doanh (của Vietcap). So với giá gốc, công ty đang lãi 74%, tương ứng với khoảng 2.200 tỷ đồng. Con số đáng kể này chủ yếu nhờ khoản đầu tư chiến lược vào cổ phiếu IDP, với giá trị hiện tại trên 2.650 tỷ đồng, gấp 6 lần giá gốc. Vietcap cònđang nắm giữ các cổ phiếu khác gồm CTG (32 tỷ đồng), HPG (23 tỷ đồng),... trong FVTPL; KDH (865 tỷ đồng), MSN (242 tỷ đồng), STB (27 tỷ đồng), Napas,... trong AFS.
Danh mục tự doanh cổ phiếu của Vietcap tập trung tại AFS. (Nguồn: BCTC bán niên của Vietcap).
Tại ĐHĐCĐ thường niên 2023 hồi đầu năm, Tổng Giám đốc Vietcap - ông Tô Hải cho biết công ty vẫn duy trì nắm giữ IDP do doanh nghiệp sữa đang tăng trưởng tốt cùng dự kiến chia cổ tức 25% trong năm, nên Vietcap chỉ thoái vốn khi thực sự cần thiết. Ngoài ra, Napas là khoản đầu tư dài hạn quan trọng, công ty cũng chưa có ý định sớm thoái vốn.
Chứng khoán VIX (Mã: VIX) cũng đầu tư đáng kể vào cổ phiếu, với giá trị trên 3.555 tỷ đồng tại cuối tháng 6, cao hơn 386 tỷ đồng tương đương 12% so với giá gốc. Tỷ trọng cổ phiếu trong cơ cấu tự doanh đạt 53%.
Giá trị tự doanh của cổ phiếu của một số công ty chứng khoán tại thời điểm 30/6. Nguồn: XN tổng hợp.
VIX rót nhiều nhất 1.063 tỷ đồng vào cổ phiếu EIB nhưng đang lỗ 4%. Ngược lại, công ty chứng khoán này đang lãi tại GEX (13%), TBD (65%), Hạ tầng Gelex (33%), VAV (8%), NVL (1%) thời điểm cuối quý II… Vào tháng 8, VIX báo cáo đã mua thêm 1,5 triệu cổ phiếu TBD, ước tính số tiền chi ra đạt trên 143 tỷ đồng.
Tỷ trọng cổ phiếu trong tự doanh của Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (Mã: SHS) nhỉnh hơn so với VIX, đạt 54% tại thời điểm cuối tháng 6, tương ứng với 2.872 tỷ đồng. SHS rót vốn nhiều nhất vào EIB (890 tỷ), SAF (334 tỷ), GDA (Tôn Đông Á) (200 tỷ),... trong FVTPL. Bên cạnh đó, danh mục AFS bao gồm 3 mã SHB (568 tỷ) BCG (51 tỷ) và TCD (89 tỷ đồng).
Giá trị đầu tư FVTPL và AFS của SHS tại 30/6. (Nguồn: BCTC bán niên của SHS).
Đa phần CTCK đầu tư cổ phiếu dưới 10% tỷ trọng tự doanh
Sở hữu danh mục cổ phiếu trên nghìn tỷ còn có Chứng khoán SSI (Mã: SSI), VNDirect (Mã: VND), TCBS và Thiên Việt (Mã: TVS). Tuy nhiên, khác với Vietcap, SHS hay VIX, các CTCK còn lại như SSI, VND, TCBS, VPBankS,... lại đầu tư nhiều hơn vào trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi, trong khi tỷ trọng cổ phiếu tự doanh chỉ dưới 10%.
Đơn cử, danh mục tự doanh của SSI lớn nhất ngành với 31.424 tỷ đồng tại 30/6. Tuy nhiên SSI chỉ rót 5,6% vào cổ phiếu, tương ứng giá trị 1.773 tỷ đồng, tăng 22% sau 6 tháng. Còn lại, SSI phân bổ 31,6% vào trái phiếu và 62,8% mua chứng chỉ tiền gửi và gửi ngân hàng. Cổ phiếu có tỷ trọng đáng kể của ông lớn này là SGN (435 tỷ) trong tài sản FVTPL. Tại AFS, cổ phiếu chiếm hơn 688 tỷ đồng, bao gồm các mã như CTCP PAN Farm (53,4 tỷ), Concung (40 tỷ đồng),...
Tương tự, Chứng khoán VNDirect (Mã: VND) ghi nhận giá trị tự doanh đang đạt 25.817 tỷ đồng, tăng 5% sau 6 tháng đầu năm và lớn thứ hai thị trường. Giá trị cổ phiếu đầu tư cổ phiếu của VNDirect đạt khoảng 1.989 tỷ đồng tại cuối tháng 6, tỷ trọng 7,7% mảng tự doanh.
Các cổ phiếu có giá trị lớn nhất danh mục VNDirect gồm PTI (495 tỷ), VPB (198 tỷ), C4G (350 tỷ), HSG (160 tỷ), VCB (76 tỷ đồng),… CTCK này đang lãi nhiều nhất tại PTI (tăng 29%) và C4G (tăng 23%), ngược lại lỗ 35% đối với khoản đầu tư vào LTG.
VPBankS ra tay giải ngân, VietinBank Securities thực hiện chốt lời sau nhiều năm
Như đã đề cập, việc thị trường cổ phiếu tăng trưởng từ đầu năm mở ra nhiều cơ hội kiếm lợi nhuận từ hoạt động tự doanh. Một số đơn vị đã mạnh tay giải ngân, gia tăng giá trị đầu tư cổ phiếu trong 6 tháng đầu năm. Đáng kể nhất là Chứng khoán VPBank (VPBankS) với việc phát sinh đầu tư cổ phiếu 715 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, VPBankS cũng gia tăng 60% giá trị danh mục trái phiếu, đạt 10.081 tỷ đồng tại cuối tháng 6.và nâng lượng chứng chỉ tiền gửi gấp 6 lần, từ 225 tỷ đồng lên 1.360 tỷ đồng.
Ở diễn biến khác, lợi nhuận quý II của VietinBank Securities (Mã: CTS) gia tăng đột biến nhờ việc đánh giá lại khoản đầu tư cổ phiếu. Cụ thể, công ty báo lãi trước thuế hơn 94,5 tỷ đồng trong đó hơn 170 tỷ đồng là lợi nhuận đã thực hiện trong khi cùng kỳ năm trước chỉ lãi hơn 4 tỷ đồng. Trong quý II, việc bán cổ phiếu đem lãi hơn 140 tỷ đồng tiền lãi.
Tuy nhiên, khoản chốt lời lớn nhất của VietinBank Securities đến từ cổ phiếu chưa niêm yết. Công ty bán ra 4,7 triệu cp với giá 141 tỷ đồng và đem lại lợi nhuận hơn 116,9 tỷ đồng. So sánh với sự sụt giảm giá vốn đầu tư. Đây chính là khoản đầu tư vào cổ phiếu của CTCP Ô tô Trường Hải (Thaco). Như vậy, công ty đã chốt lãi một phần cổ phiếu Thaco với giá 30.000 đồng/cp sau nhiều năm nắm giữ.
Cập nhật về danh mục cổ phiếu của Vietinbank Securities, hầu hết các mã trong danh mục đầu tư thời điểm cuối tháng 6 đều đang lỗ như EIB, TCD, VPB, DBC, HNG,… Ngược lại, các cổ phiếu Thaco, VIX,… đang lãi.
Tựu trung lại, giống như nhà đầu tư cá nhân, không phải khoản đầu tư cổ phiếu nào của CTCK cũng thu lãi, ngược lại có thể lỗ. Tuy nhiên, việc nắm giữ lượng lớn cổ phiếu trong bối cảnh TTCK tăng mạnh là một yếu tố đáng theo dõi, tiềm năng ghi nhận những khoản lợi nhuận lớn trong quý III hoặc quý IV tới. Lưu ý, một số trường hợp CTCK có phát sinh tài sản cơ sở cho hoạt động phòng ngừa rủi ro chứng quyền, điều này không thể hiện quan điểm đầu tư của bộ phận tự doanh.
CTCK nào đang dẫn đầu về giá trị tự doanh cổ phiếu?
Với bối cảnh thị trường cổ phiếu vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh trong quý III (tính đến 11/9), việc nắm giữ danh mục cổ phiếu lớn có thể mở ra cơ hội kiếm lợi nhuận cho công ty chứng khoán (CTCK). Chứng khoán Vietcap, VIX và SHS là các đơn vị đang dẫn đầu về giá trị danh mục đầu tư cổ phiếu.
Thị trường cổ phiếu ghi nhận bước tiến mạnh mẽ trong những tháng đầu năm, VN-Index đã tăng hơn 11% trong 6 tháng đầu năm và tiếp tục nâng lên trên 21%, tính đến 11/9. Với bối cảnh thị trường vẫn đang tiếp tục khả quan trong quý III, việc nắm giữ danh mục cổ phiếu lớn có thể mở ra cơ hội lợi nhuận cho công ty chứng khoán (CTCK). Do đó, nhà đầu tư cũng quan tâm đến việc đơn vị nào đang đầu tư nhiều cổ phiếu, và danh mục cổ phiếu liệu có tiềm năng tăng trưởng, tạo ra lợi nhuận cho công ty trong thời gian tới.
Theo thống kê của người viết, Top10 CTCK có khoản tự doanh lớn nhất tại cuối tháng 6 đang nắm giữ khoảng 131.600 tỷ đồng, tương đương 66% (khoảng 2/3) giá trị tự doanh toàn ngành. Mảng tự doanh bao gồm tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL), các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (HTM) và các tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS).
Phần lớn danh mục tự doanh của các CTCK đều gồm các tài sản ít hoặc không biến động như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, công cụ thị trường tiền tệ, tiền gửi ngân hàng. Trong khi đó, phần cổ phiếu (nằm trong FVTPL/AFS) thường không chiếm tỷ lệ lớn.
Thời điểm 30/6, có 3 đơn vị đã phân bổ đến hơn 50% mảng tự doanh vào cổ phiếu gồm Chứng khoán Vietcap, SHS và VIX.
Theo giá trị tuyệt đối, Chứng khoán Vietcap (Mã: VCI) đanglà đơn vị sở hữu danh mục cổ phiếu tự doanh lớn nhất ngành, với 5.174 tỷ đồng tại cuối tháng 6 và chiếm đến 88% mảng tự doanh (của Vietcap). So với giá gốc, công ty đang lãi 74%, tương ứng với khoảng 2.200 tỷ đồng. Con số đáng kể này chủ yếu nhờ khoản đầu tư chiến lược vào cổ phiếu IDP, với giá trị hiện tại trên 2.650 tỷ đồng, gấp 6 lần giá gốc. Vietcap cònđang nắm giữ các cổ phiếu khác gồm CTG (32 tỷ đồng), HPG (23 tỷ đồng),... trong FVTPL; KDH (865 tỷ đồng), MSN (242 tỷ đồng), STB (27 tỷ đồng), Napas,... trong AFS.
Danh mục tự doanh cổ phiếu của Vietcap tập trung tại AFS. (Nguồn: BCTC bán niên của Vietcap).
Tại ĐHĐCĐ thường niên 2023 hồi đầu năm, Tổng Giám đốc Vietcap - ông Tô Hải cho biết công ty vẫn duy trì nắm giữ IDP do doanh nghiệp sữa đang tăng trưởng tốt cùng dự kiến chia cổ tức 25% trong năm, nên Vietcap chỉ thoái vốn khi thực sự cần thiết. Ngoài ra, Napas là khoản đầu tư dài hạn quan trọng, công ty cũng chưa có ý định sớm thoái vốn.
Chứng khoán VIX (Mã: VIX) cũng đầu tư đáng kể vào cổ phiếu, với giá trị trên 3.555 tỷ đồng tại cuối tháng 6, cao hơn 386 tỷ đồng tương đương 12% so với giá gốc. Tỷ trọng cổ phiếu trong cơ cấu tự doanh đạt 53%.
Giá trị tự doanh của cổ phiếu của một số công ty chứng khoán tại thời điểm 30/6. Nguồn: XN tổng hợp.
VIX rót nhiều nhất 1.063 tỷ đồng vào cổ phiếu EIB nhưng đang lỗ 4%. Ngược lại, công ty chứng khoán này đang lãi tại GEX (13%), TBD (65%), Hạ tầng Gelex (33%), VAV (8%), NVL (1%) thời điểm cuối quý II… Vào tháng 8, VIX báo cáo đã mua thêm 1,5 triệu cổ phiếu TBD, ước tính số tiền chi ra đạt trên 143 tỷ đồng.
Tỷ trọng cổ phiếu trong tự doanh của Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (Mã: SHS) nhỉnh hơn so với VIX, đạt 54% tại thời điểm cuối tháng 6, tương ứng với 2.872 tỷ đồng. SHS rót vốn nhiều nhất vào EIB (890 tỷ), SAF (334 tỷ), GDA (Tôn Đông Á) (200 tỷ),... trong FVTPL. Bên cạnh đó, danh mục AFS bao gồm 3 mã SHB (568 tỷ) BCG (51 tỷ) và TCD (89 tỷ đồng).
Giá trị đầu tư FVTPL và AFS của SHS tại 30/6. (Nguồn: BCTC bán niên của SHS).
Đa phần CTCK đầu tư cổ phiếu dưới 10% tỷ trọng tự doanh
Sở hữu danh mục cổ phiếu trên nghìn tỷ còn có Chứng khoán SSI (Mã: SSI), VNDirect (Mã: VND), TCBS và Thiên Việt (Mã: TVS). Tuy nhiên, khác với Vietcap, SHS hay VIX, các CTCK còn lại như SSI, VND, TCBS, VPBankS,... lại đầu tư nhiều hơn vào trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi, trong khi tỷ trọng cổ phiếu tự doanh chỉ dưới 10%.
Đơn cử, danh mục tự doanh của SSI lớn nhất ngành với 31.424 tỷ đồng tại 30/6. Tuy nhiên SSI chỉ rót 5,6% vào cổ phiếu, tương ứng giá trị 1.773 tỷ đồng, tăng 22% sau 6 tháng. Còn lại, SSI phân bổ 31,6% vào trái phiếu và 62,8% mua chứng chỉ tiền gửi và gửi ngân hàng. Cổ phiếu có tỷ trọng đáng kể của ông lớn này là SGN (435 tỷ) trong tài sản FVTPL. Tại AFS, cổ phiếu chiếm hơn 688 tỷ đồng, bao gồm các mã như CTCP PAN Farm (53,4 tỷ), Concung (40 tỷ đồng),...
Tương tự, Chứng khoán VNDirect (Mã: VND) ghi nhận giá trị tự doanh đang đạt 25.817 tỷ đồng, tăng 5% sau 6 tháng đầu năm và lớn thứ hai thị trường. Giá trị cổ phiếu đầu tư cổ phiếu của VNDirect đạt khoảng 1.989 tỷ đồng tại cuối tháng 6, tỷ trọng 7,7% mảng tự doanh.
Các cổ phiếu có giá trị lớn nhất danh mục VNDirect gồm PTI (495 tỷ), VPB (198 tỷ), C4G (350 tỷ), HSG (160 tỷ), VCB (76 tỷ đồng),… CTCK này đang lãi nhiều nhất tại PTI (tăng 29%) và C4G (tăng 23%), ngược lại lỗ 35% đối với khoản đầu tư vào LTG.
VPBankS ra tay giải ngân, VietinBank Securities thực hiện chốt lời sau nhiều năm
Như đã đề cập, việc thị trường cổ phiếu tăng trưởng từ đầu năm mở ra nhiều cơ hội kiếm lợi nhuận từ hoạt động tự doanh. Một số đơn vị đã mạnh tay giải ngân, gia tăng giá trị đầu tư cổ phiếu trong 6 tháng đầu năm. Đáng kể nhất là Chứng khoán VPBank (VPBankS) với việc phát sinh đầu tư cổ phiếu 715 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, VPBankS cũng gia tăng 60% giá trị danh mục trái phiếu, đạt 10.081 tỷ đồng tại cuối tháng 6.và nâng lượng chứng chỉ tiền gửi gấp 6 lần, từ 225 tỷ đồng lên 1.360 tỷ đồng.
Ở diễn biến khác, lợi nhuận quý II của VietinBank Securities (Mã: CTS) gia tăng đột biến nhờ việc đánh giá lại khoản đầu tư cổ phiếu. Cụ thể, công ty báo lãi trước thuế hơn 94,5 tỷ đồng trong đó hơn 170 tỷ đồng là lợi nhuận đã thực hiện trong khi cùng kỳ năm trước chỉ lãi hơn 4 tỷ đồng. Trong quý II, việc bán cổ phiếu đem lãi hơn 140 tỷ đồng tiền lãi.
Tuy nhiên, khoản chốt lời lớn nhất của VietinBank Securities đến từ cổ phiếu chưa niêm yết. Công ty bán ra 4,7 triệu cp với giá 141 tỷ đồng và đem lại lợi nhuận hơn 116,9 tỷ đồng. So sánh với sự sụt giảm giá vốn đầu tư. Đây chính là khoản đầu tư vào cổ phiếu của CTCP Ô tô Trường Hải (Thaco). Như vậy, công ty đã chốt lãi một phần cổ phiếu Thaco với giá 30.000 đồng/cp sau nhiều năm nắm giữ.
Cập nhật về danh mục cổ phiếu của Vietinbank Securities, hầu hết các mã trong danh mục đầu tư thời điểm cuối tháng 6 đều đang lỗ như EIB, TCD, VPB, DBC, HNG,… Ngược lại, các cổ phiếu Thaco, VIX,… đang lãi.
Tựu trung lại, giống như nhà đầu tư cá nhân, không phải khoản đầu tư cổ phiếu nào của CTCK cũng thu lãi, ngược lại có thể lỗ. Tuy nhiên, việc nắm giữ lượng lớn cổ phiếu trong bối cảnh TTCK tăng mạnh là một yếu tố đáng theo dõi, tiềm năng ghi nhận những khoản lợi nhuận lớn trong quý III hoặc quý IV tới. Lưu ý, một số trường hợp CTCK có phát sinh tài sản cơ sở cho hoạt động phòng ngừa rủi ro chứng quyền, điều này không thể hiện quan điểm đầu tư của bộ phận tự doanh.