Bài viết đặc biệt: HPG - Điểm rơi Dung Quất 2 gần kề
Quote from NĐT 1984 on Tháng 6 23, 2024, 9:41 chiều
Kết thúc Q1/2024, HPG ghi nhận doanh thu thuần đật 30.853 tỷ (+16% yoy) và lợi nhuận ròng công ty mẹ đạt 2.871 tỷ (+622,2% yoy), kết quả kinh doanh đột biến nhờ sản lượng bán hàng tăng 34% yoy và biên lợi nhuận gộp hồi phục từ mức 6% lên 13% nhờ giá nguyên vật liệu đầu vào (than cốc, quặng sắt) tiếp tục suy giảm so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, HPG tiếp tục nâng cao thị phần khi đạt mức 45%, tăng 4% so với cùng kỳ.
Đến hết Q1/2024, dự án Dung Quất 2 giai đoạn 1 (công suất 2,8 triệu tấn HRC/năm) đang dần hình thành và dự kiến đóng góp sản lượng từ năm 2025 – hiện mức chi phí xây dựng cơ bản dở dang cho dự án được 26.800 tỷ, đây cũng là dự án có công nghệ cải tiến hơn Dung Quất 1, qua đó giúp HPG có thể sản xuất HRC chất lượng cao, đa dạng chỉ tiêu kĩ thuật và phù hợp với ngành nghiệp oto, tàu thuỷ, …
Đây vẫn sẽ là quả đấm thép tiếp theo để HPG tiếp tục mở rộng thị phần cũng như gia tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khu vực.
Năm 2024 cũng là năm có nhiều biến động địa chính trị toàn cầu với các cuộc bầu cử được diễn ra trong năm, trong đó cuộc Tổng tuyển cử Hoa Kỳ vào tháng 11/2024 là quan trọng nhất, từ đây, Tổng thống Hoa Kỳ buộc phải đưa ra các biện pháp cứng rắn để lấy lòng cử tri, trong đó việc tăng thuế áp lên hàng hoá Trung Quốc nhập khẩu là một ví dụ điển hình, trong giai đoạn qua, Mỹ đã tiếp tục đề xuất tăng thuế lên thép TQ từ mức 7,5% hiện tại lên 22,5%.
Điều này tiếp tục gây leo thang căng thẳng Mỹ Trung và tạo tiền để cho các quốc gia khác có thể thay thế thép Trung Quốc ở Mỹ, trong đó có thép Việt Nam từ HPG và các doanh nghiệp khác trong ngành như NKG, GDA, …
Ngoài ra, chính sách tiền tệ thắt chặt của Hoa Kỳ cũng đã đi đến những giai đoạn cuối và có thể chuyển qua nới lỏng thông qua giảm lãi suất Fed Fund Rate trong giai đoạn cuối năm 2024, đây là tiền đề quan trọng giúp gia tăng nhu cầu xây dựng trên toàn cầu, kết hợp với việc các luật thuế mới ở Việt Nam điều chỉnh thị trường bất động sản có hiệu lực từ năm 2025, điều này có thể giúp HPG và các doanh nghiệp trong ngành gia tăng sản lượng tiêu thục thép, trong đó năm 2024 sẽ là tiền đề với sản lượng tiêu thụ thép có thể đạt ngang mức lịch sử năm 2022, tức trên 4,1 triệu tấn (+10% yoy).
Vùng giá đầu tư:
Giá vốn bất tử: 18.200 đồng/cp (tương ứng giá trị sổ sách cuối Q1/2024 của HPG).
Giá vốn an toàn: 26.700 đồng/cp (tương ứng giá trị sổ sách + lợi nhuận điểm rơi 5 năm trung bình 10.000 tỷ/năm với giả định HPG hoạt động 90% công suất trước khi có Dung Quất 2).
Giá vốn dự phóng: 40.100 đồng/cp (đỉnh lịch sử của HPG khi vận hành full công suất Dung Quất 2 và đưa lợi nhuận lên quanh 20.000 tỷ/năm).
- Theo Rumor nền tảng Kpler, hơn 477,600 tấn thép Việt Nam sẽ cập bến EU từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 6. Nếu chỉ một nửa trong số này là HRC, Việt Nam sẽ vượt xa mức giới hạn và các nhà nhập khẩu phải đối mặt với mức thuế đáng kể. Các nhà xuất khẩu Việt Nam cho biết khoảng 50% doanh số bán hàng ra nước ngoài của họ là HRC.
- Một công ty giao nhận vận tải cho biết có thể có hơn 200,000 tấn HRC Việt Nam chỉ tính riêng ở Ý đang chờ thông quan vào hạn ngạch ngày 1/7. “Đó sẽ là một thảm họa”, một người mua nói thêm. “Có hơn 142,000 tấn từ Việt Nam sẽ được thông quan vào ngày 1/7.”
- Việt Nam đã được cấp số đơn hàng là 098451 theo biện pháp bảo vệ và Nhật Bản là 098452. Đài Loan, Úc và Brazil cũng đã được cấp số đơn hàng của riêng họ theo biện pháp bảo vệ của 'các quốc gia khác'.
- Thảm hoạ của Châu Âu thì cơ hội của các nước khác. Bài học từ hồi chiến tranh Nga - Uka.
- Vì Đức là nhà sản xuất thép lớn nhất châu Âu với quy mô 40tr tấn/năm, do chiến tranh Nga - Uka, nên 2 năm vừa qua EU không có nguồn khí giá rẻ từ Nga, từ đó rơi vào tình trạng phi công nghiệp hoá. Hiện tại phải nhập nguyên liệu từ các nước khác do chi phí thấp hơn.
- Việt Nam giờ có HPG và Formosa là sản xuất được thép HRC chủ động được nguồn đầu vào để sản xuất thép chất lượng cao. Cộng với vị trí địa chính trị của Việt Nam nên rất thuận lợi nhờ nằm gần các nguồn nguyên liệu chính như quặng sắt, than từ Indo, Úc. Nên thành phẩm có giá cạnh tranh trên toàn cầu. Tất nhiên vẫn sẽ có các nhà sản xuất Trung Quốc có giá cạnh tranh hơn, song Trung Quốc thì đang vào giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế xanh với việc giảm dần các ngành gây ô nhiễm như Thép.
- Ngành thép Việt Nam tất nhiên cũng sẽ phân tách rõ. HPG sẽ vươn lên thêm nữa khi có các dự án mới như Dung Quất 2 với thêm 4 triệu thép HRC và 1 triệu thép chất lượng cao, đây là nguồn nguyên liệu để vào các ngành có giá trị cao hơn như oto, ray xe lửa, ...và nếu đúng điểm rơi thì là nguồn lực để làm thêm dự án thép Dung Quất 3 giai đoạn 2028 - 2030 hoặc dự án thép Phú Yên. HPG sẽ tăng quy mô lên với giá thành rẻ nhất ngành. Nên ăn được thị phần các doanh nghiệp trong nước và khiến các doanh nghiệp đó phá sản hoặc sáp nhập vào HPG. Từ đó thị phần Thép Việt Nam sẽ phân hoá: HPG ăn thị phần còn NKG HSG ... sau dần sẽ làng nhàng dần, do không chịu đầu tư, và tất nhiên là phụ thuộc nguồn nguyên liệu đầu vào từ HPG.
Lưu ý: Trong ngắn hạn cũng có rủi ro, vì Việt Nam xuất khẩu nhiều quá thì Châu Âu, Mỹ cũng sẽ có nước đi điều tra chống bán phá giá. Do đó cũng phải mất thời gian điều tra. Giả sử nếu có động thái đó thì khả năng các doanh nghiệp Việt cũng sẽ phải qua đó điều đình.
Còn về dài hạn thì châu Âu mất nguồn khí giá rẻ từ Nga nên cũng không thể cạnh tranh được.
Hay như hiện tại đang đòi đánh thuế xe điện và pin mặt trời Trung Quốc theo Mỹ, song làm thế thì ngành sản xuất cũng bị trả đũa và tất nhiên là lạm phát cũng khó kiềm chế.
Khuyến nghị tham khảo: mở mua 30% vốn với HPG tích sản dài hạn vùng 27-28.x.

Kết thúc Q1/2024, HPG ghi nhận doanh thu thuần đật 30.853 tỷ (+16% yoy) và lợi nhuận ròng công ty mẹ đạt 2.871 tỷ (+622,2% yoy), kết quả kinh doanh đột biến nhờ sản lượng bán hàng tăng 34% yoy và biên lợi nhuận gộp hồi phục từ mức 6% lên 13% nhờ giá nguyên vật liệu đầu vào (than cốc, quặng sắt) tiếp tục suy giảm so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, HPG tiếp tục nâng cao thị phần khi đạt mức 45%, tăng 4% so với cùng kỳ.
Đến hết Q1/2024, dự án Dung Quất 2 giai đoạn 1 (công suất 2,8 triệu tấn HRC/năm) đang dần hình thành và dự kiến đóng góp sản lượng từ năm 2025 – hiện mức chi phí xây dựng cơ bản dở dang cho dự án được 26.800 tỷ, đây cũng là dự án có công nghệ cải tiến hơn Dung Quất 1, qua đó giúp HPG có thể sản xuất HRC chất lượng cao, đa dạng chỉ tiêu kĩ thuật và phù hợp với ngành nghiệp oto, tàu thuỷ, …
Đây vẫn sẽ là quả đấm thép tiếp theo để HPG tiếp tục mở rộng thị phần cũng như gia tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khu vực.
Năm 2024 cũng là năm có nhiều biến động địa chính trị toàn cầu với các cuộc bầu cử được diễn ra trong năm, trong đó cuộc Tổng tuyển cử Hoa Kỳ vào tháng 11/2024 là quan trọng nhất, từ đây, Tổng thống Hoa Kỳ buộc phải đưa ra các biện pháp cứng rắn để lấy lòng cử tri, trong đó việc tăng thuế áp lên hàng hoá Trung Quốc nhập khẩu là một ví dụ điển hình, trong giai đoạn qua, Mỹ đã tiếp tục đề xuất tăng thuế lên thép TQ từ mức 7,5% hiện tại lên 22,5%.
Điều này tiếp tục gây leo thang căng thẳng Mỹ Trung và tạo tiền để cho các quốc gia khác có thể thay thế thép Trung Quốc ở Mỹ, trong đó có thép Việt Nam từ HPG và các doanh nghiệp khác trong ngành như NKG, GDA, …
Ngoài ra, chính sách tiền tệ thắt chặt của Hoa Kỳ cũng đã đi đến những giai đoạn cuối và có thể chuyển qua nới lỏng thông qua giảm lãi suất Fed Fund Rate trong giai đoạn cuối năm 2024, đây là tiền đề quan trọng giúp gia tăng nhu cầu xây dựng trên toàn cầu, kết hợp với việc các luật thuế mới ở Việt Nam điều chỉnh thị trường bất động sản có hiệu lực từ năm 2025, điều này có thể giúp HPG và các doanh nghiệp trong ngành gia tăng sản lượng tiêu thục thép, trong đó năm 2024 sẽ là tiền đề với sản lượng tiêu thụ thép có thể đạt ngang mức lịch sử năm 2022, tức trên 4,1 triệu tấn (+10% yoy).
Vùng giá đầu tư:
Giá vốn bất tử: 18.200 đồng/cp (tương ứng giá trị sổ sách cuối Q1/2024 của HPG).
Giá vốn an toàn: 26.700 đồng/cp (tương ứng giá trị sổ sách + lợi nhuận điểm rơi 5 năm trung bình 10.000 tỷ/năm với giả định HPG hoạt động 90% công suất trước khi có Dung Quất 2).
Giá vốn dự phóng: 40.100 đồng/cp (đỉnh lịch sử của HPG khi vận hành full công suất Dung Quất 2 và đưa lợi nhuận lên quanh 20.000 tỷ/năm).
- Theo Rumor nền tảng Kpler, hơn 477,600 tấn thép Việt Nam sẽ cập bến EU từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 6. Nếu chỉ một nửa trong số này là HRC, Việt Nam sẽ vượt xa mức giới hạn và các nhà nhập khẩu phải đối mặt với mức thuế đáng kể. Các nhà xuất khẩu Việt Nam cho biết khoảng 50% doanh số bán hàng ra nước ngoài của họ là HRC.
- Một công ty giao nhận vận tải cho biết có thể có hơn 200,000 tấn HRC Việt Nam chỉ tính riêng ở Ý đang chờ thông quan vào hạn ngạch ngày 1/7. “Đó sẽ là một thảm họa”, một người mua nói thêm. “Có hơn 142,000 tấn từ Việt Nam sẽ được thông quan vào ngày 1/7.”
- Việt Nam đã được cấp số đơn hàng là 098451 theo biện pháp bảo vệ và Nhật Bản là 098452. Đài Loan, Úc và Brazil cũng đã được cấp số đơn hàng của riêng họ theo biện pháp bảo vệ của 'các quốc gia khác'.
- Thảm hoạ của Châu Âu thì cơ hội của các nước khác. Bài học từ hồi chiến tranh Nga - Uka.
- Vì Đức là nhà sản xuất thép lớn nhất châu Âu với quy mô 40tr tấn/năm, do chiến tranh Nga - Uka, nên 2 năm vừa qua EU không có nguồn khí giá rẻ từ Nga, từ đó rơi vào tình trạng phi công nghiệp hoá. Hiện tại phải nhập nguyên liệu từ các nước khác do chi phí thấp hơn.
- Việt Nam giờ có HPG và Formosa là sản xuất được thép HRC chủ động được nguồn đầu vào để sản xuất thép chất lượng cao. Cộng với vị trí địa chính trị của Việt Nam nên rất thuận lợi nhờ nằm gần các nguồn nguyên liệu chính như quặng sắt, than từ Indo, Úc. Nên thành phẩm có giá cạnh tranh trên toàn cầu. Tất nhiên vẫn sẽ có các nhà sản xuất Trung Quốc có giá cạnh tranh hơn, song Trung Quốc thì đang vào giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế xanh với việc giảm dần các ngành gây ô nhiễm như Thép.
- Ngành thép Việt Nam tất nhiên cũng sẽ phân tách rõ. HPG sẽ vươn lên thêm nữa khi có các dự án mới như Dung Quất 2 với thêm 4 triệu thép HRC và 1 triệu thép chất lượng cao, đây là nguồn nguyên liệu để vào các ngành có giá trị cao hơn như oto, ray xe lửa, ...và nếu đúng điểm rơi thì là nguồn lực để làm thêm dự án thép Dung Quất 3 giai đoạn 2028 - 2030 hoặc dự án thép Phú Yên. HPG sẽ tăng quy mô lên với giá thành rẻ nhất ngành. Nên ăn được thị phần các doanh nghiệp trong nước và khiến các doanh nghiệp đó phá sản hoặc sáp nhập vào HPG. Từ đó thị phần Thép Việt Nam sẽ phân hoá: HPG ăn thị phần còn NKG HSG ... sau dần sẽ làng nhàng dần, do không chịu đầu tư, và tất nhiên là phụ thuộc nguồn nguyên liệu đầu vào từ HPG.
Lưu ý: Trong ngắn hạn cũng có rủi ro, vì Việt Nam xuất khẩu nhiều quá thì Châu Âu, Mỹ cũng sẽ có nước đi điều tra chống bán phá giá. Do đó cũng phải mất thời gian điều tra. Giả sử nếu có động thái đó thì khả năng các doanh nghiệp Việt cũng sẽ phải qua đó điều đình.
Còn về dài hạn thì châu Âu mất nguồn khí giá rẻ từ Nga nên cũng không thể cạnh tranh được.
Hay như hiện tại đang đòi đánh thuế xe điện và pin mặt trời Trung Quốc theo Mỹ, song làm thế thì ngành sản xuất cũng bị trả đũa và tất nhiên là lạm phát cũng khó kiềm chế.
Khuyến nghị tham khảo: mở mua 30% vốn với HPG tích sản dài hạn vùng 27-28.x.
Quote from NĐT 1984 on Tháng 6 23, 2024, 10:57 chiềuNội dung chính
ToggleNgành thép và Tầm nhìn thập kỷ của Hòa Phát
Năm 2013, chỉ sau Olympic Bắc Kinh 5 năm, Bắc Kinh xuất hiện những ngày có tỷ lệ bụi mịn PM2.5 đạt mức 900 Microgram/m3, cao gấp 90 lần khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dù là thủ đô của đất nước có GDP thứ 2 toàn cầu song chất lượng không khí suy giảm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, và phần nào đó tác động tiêu cực đến luận thuyết “Giấc mộng Trung Hoa” do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi xướng vào năm 2012 – thời điểm ông thay thế Hồ Cẩm Đào làm người lãnh tụ tối cao của Trung Quốc.
Như tác dụng phụ của bất kì quá trình công nghiệp hóa nào trên thế giới, Trung Quốc chỉ cần 30 năm để đi lên từ một quốc gia nghèo đói, suy nhược sau “Đại Cách Mạng Văn Hóa” và “Đại Nhảy Vọt” trở thành con “Rồng Châu Á” có GDP lớn nhất châu lục, tất nhiên không thể tránh việc phải phát triển những ngành công nghiệp mà các quốc gia phát triển đi trước từ bỏ, đó là ngành thép.
Với công nghệ lò cao thông qua việc đốt than được khai thác từ các hầm mỏ ở khu vực Đông và Tây Bắc Trung Quốc, chỉ trong vòng 30 năm, chuỗi sản xuất toàn ngành chuyển dịch từ các quốc gia Bắc Mỹ, châu Âu với tổng thị phần 63% chuyển dịch qua các quốc gia đang và kém phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á, và theo chọn lọc tự nhiên, các quốc gia châu Á gần các nguồn cung cấp nguyên liệu lớn có chi phí thu mua thấp hơn nhờ lợi thế về địa lý, không những vậy với nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng mạnh khi thép là đầu vào không thể thiếu của gần như tất cả các ngành sản xuất, Trung Quốc nổi lên thành nhà sản xuất và cũng như tiêu thụ thép lớn nhất, chiếm 50% tổng sản lượng sản xuất toàn cầu (trong khi cả châu Á chiếm 70% sản lượng).
Và khác với phần lớn các quốc gia khác, Trung Quốc đều có nguồn tài nguyên than và quặng sắt lớn, nhờ đó giúp quốc gia này tiết giảm chi phí sản xuất tối đa, qua đó có lợi thế cạnh tranh cao khi so sánh với các đối thủ nước ngoài, điều này một mặt giúp Trung Quốc không tốn chi phí để nhập khẩu thép ngoại nhập, mà còn thu thêm được nhiều ngoại tệ nhờ sản lượng dư thừa được đẩy ra xuất khẩu, qua đó thép luôn là một ngành mũi nhọn của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hóa 1980 – 2010, tuy nhiên, tác dụng phụ của quá trình này chính là sự đi xuống của chất lượng không khí trong cùng giai đoạn.
Nhưng, khi đã trở thành quốc gia có nền kinh tế số 2 toàn cầu, Trung Quốc không còn bất chấp tất cả để làm giàu như giai đoạn trước, chiến lược “giành lại màu xanh cho bầu trời” được công bố vào năm 2013 nhằm hạn chế dần các ngành gây ô nhiễm không khí như than hay oto xăng, … và đặc biệt khi tháng 5/2015, chiến lược “Made in China 2025” được công bố với chiến lược 10 năm, Trung Quốc chuyển dần từ một “gã không lồ sản xuất” sang “Cường quốc sản xuất thế giới” vào năm 2049, tức lúc này Trung Quốc sẽ chuyển hóa sang dẫn đầu ở các ngành công nghệ tương lai có giá trị cao hơn như công nghệ thông tin, roboot, năng lượng mới thông qua công nghệ sinh học, máy móc nông nghiệp, thiết bị hàng không, hàng hải và đường sắt.
Và mặt trái của câu chuyện này, Trung Quốc giảm dần các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường như khai khoáng, thép, hóa chất, giấy, … khi giờ đây không còn sản xuất một cách ồ ạt, Trung Quốc đưa ra các quy định thắt chặt hơn để loại bỏ dần những công nghệ lạc hậu, hiệu suất thấp và chi phí xử lý môi trường lớn.
Từ đây, CƠ HỘI THẬP KỶ xuất hiện.
Từ chỗ là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, Trung Quốc cắt giảm dần sản lượng thông qua đóng cửa các nhà máy sản xuất không hiệu quả, và hướng đến làm chủ các ngành có giá trị chất xám cao, từ đó sự chuyển dịch sản xuất bắt đầu tư Trung Quốc sang các quốc giá mới nổi thứ 3.
Và với vị trí địa chính trị sát sườn phía nam Trung Quốc, Việt Nam nổi lên như một ngôi sao có thể thay thế Trung Quốc ở các lĩnh vực khó khăn trên.
Với đặc thù là một nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam có nhu cầu thép lớn để thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, đường sắt, cũng như cần nguồn nguyên liệu đầu vào để phát triển ngành bất động sản, chế biến chế tạo, …
Ngoài ra, việc nằm gần các nguồn cung ứng nguyên liệu lớn như Úc và Indonesia giúp giảm chi phí vận chuyển, trong khi đó dân số Việt Nam lại tiến vào giai đoạn “Dân số vàng” từ năm 2007 đến 2037 giúp tạo ra nội lực lớn đất nước phát triển một cách nhanh chóng.
Tất cả những yếu tố trên tạo nền tảng vững chắc cho ngành thép vươn lên phát triển.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng thấy được câu chuyện đó, trước năm 2020, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ sản xuất được mỗi thép dài, nguyên liệu sản xuất thép xây dựng nhằm hỗ trợ ngành bất động sản.
Nhiều dự án được công bố để thực hiện công nghệ lò cao nhằm sản xuất thép dẹt(nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm cao hơn như Tốn, Ống thép, …) từ Cà Ná (của HSG) đến Dung Quất (của HPG), … song cuối cùng chỉ có Dung Quất thành công và đi vào hoạt động từ năm 2020, qua đó giúp Việt Nam giảm dần lượng thép HRC nhập khẩu từ bên ngoài, do nhu cầu trong nước luôn vượt mức sản xuất được (từ Formosa Hà Tĩnh và Hòa Phát).
Với Dung Quất, HPG có các ưu thế như sau:
(1) Có vị trí cực kì thuận tiện trong việc nhập nguyên liệu bên ngoài (từ Úc, Indonesia) nhờ cảng nước sâu Dung Quất,
(2) Có vị trí tốt để xuất khẩu các sản phẩm thép đã sản xuất qua các thị trường miền Bắc và Nam,
(3) Có nhiều dư địa để mở rộng, khi sau Dung Quất 1, HPG đã tiến hành Dung Quất 2 để nâng công suất và có thể sau này còn tiếp tục mở thêm Dung Quất 3 hay dự án Phú Yên với tổng vốn đầu tư 120.000 tỷ đồng, qua đó nâng công suất của HPG trong tương lai có thể lên mức 18 – 20 triệu tấn thép/năm.
Về dài hạn, thép là cuộc chơi của việc tiết giảm chi phí về tối thiểu, qua đó giảm giá thành sản xuất xuống tối đa, qua đó giúp doanh nghiệp luôn tồn tại được ở bất kỳ thị trường nào cũng như có thể cạnh tranh không phải chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới.
Trong đó HPG nổi lên là ứng cử viên sáng giá nhất nhờ chiến lược nhất quán và vững chắc.
Sau mỗi chu kì kinh tế, HPG có thể đầu từ nâng công suất ở những giai đoạn thị trường thép thấp điểm, nhờ đó chi phí đầu tư ở mức thấp (khi cả thị trường đều e ngại), song điểm rơi của các dự án lại đúng vào giai đoạn thị trường hồi phục và bủng nổ trở lại (từ Khu liên hiệp Hải Dương, đến Khu liên hiệp Dung Quất 1) giúp giá thép gia tăng đúng pha HPG gia tăng sản lượng, qua đó giúp công ty thu được lợi nhuận đột biến tối đa và hoàn vốn dự án đầu tư trong thời gian ngắn (như Khu liên hiệp Dung Quất 1 hoàn vốn đầu tư chỉ trong vòng 2 năm).
Với chiến lược trên, theo thời gian HPG lần lượt lấn dần thị phần của các đối thủ cạnh tranh, nhờ lợi thế giá vốn sản xuất thấp nhất Việt Nam, qua đó dần dần loại bỏ các đối thủ cạnh tranh hoắc sát nhập đối thủ, đồng thời cũng giúp HPG phình to hơn, nở to dần sau mỗi chu kì kinh tế, để dần dần trở thành một “Chaebol” Việt Nam trong vòng 5 – 10 năm tới khi cơ cấu “dân số vàng” kết thúc.
Ngành thép và Tầm nhìn thập kỷ của Hòa Phát
Năm 2013, chỉ sau Olympic Bắc Kinh 5 năm, Bắc Kinh xuất hiện những ngày có tỷ lệ bụi mịn PM2.5 đạt mức 900 Microgram/m3, cao gấp 90 lần khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dù là thủ đô của đất nước có GDP thứ 2 toàn cầu song chất lượng không khí suy giảm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, và phần nào đó tác động tiêu cực đến luận thuyết “Giấc mộng Trung Hoa” do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi xướng vào năm 2012 – thời điểm ông thay thế Hồ Cẩm Đào làm người lãnh tụ tối cao của Trung Quốc.
Như tác dụng phụ của bất kì quá trình công nghiệp hóa nào trên thế giới, Trung Quốc chỉ cần 30 năm để đi lên từ một quốc gia nghèo đói, suy nhược sau “Đại Cách Mạng Văn Hóa” và “Đại Nhảy Vọt” trở thành con “Rồng Châu Á” có GDP lớn nhất châu lục, tất nhiên không thể tránh việc phải phát triển những ngành công nghiệp mà các quốc gia phát triển đi trước từ bỏ, đó là ngành thép.
Với công nghệ lò cao thông qua việc đốt than được khai thác từ các hầm mỏ ở khu vực Đông và Tây Bắc Trung Quốc, chỉ trong vòng 30 năm, chuỗi sản xuất toàn ngành chuyển dịch từ các quốc gia Bắc Mỹ, châu Âu với tổng thị phần 63% chuyển dịch qua các quốc gia đang và kém phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á, và theo chọn lọc tự nhiên, các quốc gia châu Á gần các nguồn cung cấp nguyên liệu lớn có chi phí thu mua thấp hơn nhờ lợi thế về địa lý, không những vậy với nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng mạnh khi thép là đầu vào không thể thiếu của gần như tất cả các ngành sản xuất, Trung Quốc nổi lên thành nhà sản xuất và cũng như tiêu thụ thép lớn nhất, chiếm 50% tổng sản lượng sản xuất toàn cầu (trong khi cả châu Á chiếm 70% sản lượng).
Và khác với phần lớn các quốc gia khác, Trung Quốc đều có nguồn tài nguyên than và quặng sắt lớn, nhờ đó giúp quốc gia này tiết giảm chi phí sản xuất tối đa, qua đó có lợi thế cạnh tranh cao khi so sánh với các đối thủ nước ngoài, điều này một mặt giúp Trung Quốc không tốn chi phí để nhập khẩu thép ngoại nhập, mà còn thu thêm được nhiều ngoại tệ nhờ sản lượng dư thừa được đẩy ra xuất khẩu, qua đó thép luôn là một ngành mũi nhọn của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hóa 1980 – 2010, tuy nhiên, tác dụng phụ của quá trình này chính là sự đi xuống của chất lượng không khí trong cùng giai đoạn.
Nhưng, khi đã trở thành quốc gia có nền kinh tế số 2 toàn cầu, Trung Quốc không còn bất chấp tất cả để làm giàu như giai đoạn trước, chiến lược “giành lại màu xanh cho bầu trời” được công bố vào năm 2013 nhằm hạn chế dần các ngành gây ô nhiễm không khí như than hay oto xăng, … và đặc biệt khi tháng 5/2015, chiến lược “Made in China 2025” được công bố với chiến lược 10 năm, Trung Quốc chuyển dần từ một “gã không lồ sản xuất” sang “Cường quốc sản xuất thế giới” vào năm 2049, tức lúc này Trung Quốc sẽ chuyển hóa sang dẫn đầu ở các ngành công nghệ tương lai có giá trị cao hơn như công nghệ thông tin, roboot, năng lượng mới thông qua công nghệ sinh học, máy móc nông nghiệp, thiết bị hàng không, hàng hải và đường sắt.
Và mặt trái của câu chuyện này, Trung Quốc giảm dần các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường như khai khoáng, thép, hóa chất, giấy, … khi giờ đây không còn sản xuất một cách ồ ạt, Trung Quốc đưa ra các quy định thắt chặt hơn để loại bỏ dần những công nghệ lạc hậu, hiệu suất thấp và chi phí xử lý môi trường lớn.
Từ đây, CƠ HỘI THẬP KỶ xuất hiện.
Từ chỗ là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, Trung Quốc cắt giảm dần sản lượng thông qua đóng cửa các nhà máy sản xuất không hiệu quả, và hướng đến làm chủ các ngành có giá trị chất xám cao, từ đó sự chuyển dịch sản xuất bắt đầu tư Trung Quốc sang các quốc giá mới nổi thứ 3.
Và với vị trí địa chính trị sát sườn phía nam Trung Quốc, Việt Nam nổi lên như một ngôi sao có thể thay thế Trung Quốc ở các lĩnh vực khó khăn trên.
Với đặc thù là một nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam có nhu cầu thép lớn để thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, đường sắt, cũng như cần nguồn nguyên liệu đầu vào để phát triển ngành bất động sản, chế biến chế tạo, …
Ngoài ra, việc nằm gần các nguồn cung ứng nguyên liệu lớn như Úc và Indonesia giúp giảm chi phí vận chuyển, trong khi đó dân số Việt Nam lại tiến vào giai đoạn “Dân số vàng” từ năm 2007 đến 2037 giúp tạo ra nội lực lớn đất nước phát triển một cách nhanh chóng.
Tất cả những yếu tố trên tạo nền tảng vững chắc cho ngành thép vươn lên phát triển.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng thấy được câu chuyện đó, trước năm 2020, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ sản xuất được mỗi thép dài, nguyên liệu sản xuất thép xây dựng nhằm hỗ trợ ngành bất động sản.
Nhiều dự án được công bố để thực hiện công nghệ lò cao nhằm sản xuất thép dẹt(nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm cao hơn như Tốn, Ống thép, …) từ Cà Ná (của HSG) đến Dung Quất (của HPG), … song cuối cùng chỉ có Dung Quất thành công và đi vào hoạt động từ năm 2020, qua đó giúp Việt Nam giảm dần lượng thép HRC nhập khẩu từ bên ngoài, do nhu cầu trong nước luôn vượt mức sản xuất được (từ Formosa Hà Tĩnh và Hòa Phát).
Với Dung Quất, HPG có các ưu thế như sau:
(1) Có vị trí cực kì thuận tiện trong việc nhập nguyên liệu bên ngoài (từ Úc, Indonesia) nhờ cảng nước sâu Dung Quất,
(2) Có vị trí tốt để xuất khẩu các sản phẩm thép đã sản xuất qua các thị trường miền Bắc và Nam,
(3) Có nhiều dư địa để mở rộng, khi sau Dung Quất 1, HPG đã tiến hành Dung Quất 2 để nâng công suất và có thể sau này còn tiếp tục mở thêm Dung Quất 3 hay dự án Phú Yên với tổng vốn đầu tư 120.000 tỷ đồng, qua đó nâng công suất của HPG trong tương lai có thể lên mức 18 – 20 triệu tấn thép/năm.
Về dài hạn, thép là cuộc chơi của việc tiết giảm chi phí về tối thiểu, qua đó giảm giá thành sản xuất xuống tối đa, qua đó giúp doanh nghiệp luôn tồn tại được ở bất kỳ thị trường nào cũng như có thể cạnh tranh không phải chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới.
Trong đó HPG nổi lên là ứng cử viên sáng giá nhất nhờ chiến lược nhất quán và vững chắc.
Sau mỗi chu kì kinh tế, HPG có thể đầu từ nâng công suất ở những giai đoạn thị trường thép thấp điểm, nhờ đó chi phí đầu tư ở mức thấp (khi cả thị trường đều e ngại), song điểm rơi của các dự án lại đúng vào giai đoạn thị trường hồi phục và bủng nổ trở lại (từ Khu liên hiệp Hải Dương, đến Khu liên hiệp Dung Quất 1) giúp giá thép gia tăng đúng pha HPG gia tăng sản lượng, qua đó giúp công ty thu được lợi nhuận đột biến tối đa và hoàn vốn dự án đầu tư trong thời gian ngắn (như Khu liên hiệp Dung Quất 1 hoàn vốn đầu tư chỉ trong vòng 2 năm).
Với chiến lược trên, theo thời gian HPG lần lượt lấn dần thị phần của các đối thủ cạnh tranh, nhờ lợi thế giá vốn sản xuất thấp nhất Việt Nam, qua đó dần dần loại bỏ các đối thủ cạnh tranh hoắc sát nhập đối thủ, đồng thời cũng giúp HPG phình to hơn, nở to dần sau mỗi chu kì kinh tế, để dần dần trở thành một “Chaebol” Việt Nam trong vòng 5 – 10 năm tới khi cơ cấu “dân số vàng” kết thúc.

