Cuối quý I/2024, tổng tài sản của các ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính (không bao gồm Agribank) đạt hơn 14,8 triệu tỷ đồng, tăng 0,4% so với cuối năm 2023. Tốc độ gia tăng tổng tài sản của các ngân hàng đã chậm lại đáng kể so với quý IV năm ngoái trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng yếu.
Trong danh sách, có 9 ngân hàng báo cáo tổng tài sản đi xuống và 19 ngân hàng ghi nhận tổng tài sản tăng lên. LPBank là ngân hàng có tổng tài sản tăng nhanh nhất, thêm 7% hay 26.9001 tỷ đồng trong quý vừa qua. Ngoài ra, PGBank, MSB và Techcombank cũng là những nhà băng có tổng tài sản tăng nhanh, lần lượt ở mức 5,9%, 4,4% và 4,3% so với cuối năm 2023.
Xét về số dư tuyệt đối, VietinBank là ngân hàng có tài sản tăng lên nhiều nhất, ở mức hơn 45.000 tỷ đồng, Techcombank xếp thứ hai khi tài sản tăng 36.171 tỷ đồng. Tổng tài sản của BIDV tăng thêm 27.862 tỷ đồng trong quý vừa qua, tương đương 1,2%. Ở chiều ngược lại, tổng tài sản của Vietcombank đã giảm tới 65.900 tỷ đồng trong quý vừa qua.
Trong nhóm ngân hàng cổ phần, MB tiếp tục dẫn đầu với quy mô tài sản đạt hơn 900.600 tỷ đồng, giảm 4,7% so với đầu năm. Techcombank ghi nhận tổng tài sản ở mức 885.700 tỷ đồng, tăng 4,3%. Khoảng cách giữa hai nhà băng dẫn đầu nhóm cổ phần này đã thu hẹp đáng kể chỉ sau ba tháng.
Những vị trí còn lại trong Top 10 không có biến động so với cuối năm ngoái và lần lượt thuộc về VPBank, ACB, SHB và HDBank.
Ở top dưới, do tổng tài sản sụt giảm tới 10,7%, cao nhất toàn ngành, ABBank đã tụt xuống dưới Bac A Bank. Ngoài ra, BVBank (Bản Việt ) cũng tụt hai bậc trong bảng xếp hạng tổng tài sản, xuống vị trí thứ 26, sau BaoViet Bank và KienlongBank.
TOP 10 ngân hàng cho vay khách hàng nhiều nhất quý I/2024
Trong ba tháng đầu năm 2024, tín dụng đã tăng trưởng chậm lại đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 3, tín dụng mới chỉ tăng 1,34%, trong khi cùng kỳ năm trước, mức tăng là gần 2,6%. Trong hai tháng đầu năm, tín dụng thậm chí còn tăng trưởng âm.
Do đó, cho vay khách hàng của 28 ngân hàng có công bố báo cáo tài chính hàng quý (chiếm khoảng 75% tổng dư nợ toàn nền kinh tế) chỉ nhích lên 2% sau ba tháng đầu năm, đạt 10,3 triệu tỷ đồng. Cùng kỳ năm trước, dư nợ cho vay khách hàng của những nhà băng này từng tăng 4,1%.
Sau ba tháng, dư nợ cho vay của những ngân hàng trên đã tăng thêm hơn 200.200 tỷ đồng. Trước đó, vào quý IV/2023, tín dụng từng ghi nhận sự bứt tốc đáng kể, giúp dư nợ tăng thêm 726.000 tỷ đồng, bằng một nửa số dư tăng thêm cả năm 2023.
BIDV tiếp tục là quán quân về cho vay khách hàng, với quy mô hơn 1,79 triệu tỷ đồng, tăng 0,9% so với cuối năm ngoái. Do Agribank không công bố báo cáo tài chính quý I, vị trí thứ hai thuộc về VietinBank với số dư 1,51 triệu tỷ đồng, tăng 2,8% so với đầu năm, cao nhất trong nhóm Big4. Vietcombank đứng thứ ba với dư nợ đạt gần 1,27 triệu tỷ đồng, giảm 0,3%.
MB và VPBank tiếp tục duy trì vị trí thứ 4 và 5, với dư nợ cho vay lần lượt đạt 615.000 tỷ đồng và 582.700 tỷ đồng, tăng lần lượt 0,7% và 2,9%. Năm ngoái, hai nhà băng này từng thuộc nhóm dẫn đầu về tăng trưởng cho vay khách hàng.
Nhờ mức tăng trưởng cho vay cao thứ hai toàn ngành, Techcombank đã thu hẹp khoảng cách với VPBank. Dư nợ của ngân hàng này đạt 559.300 tỷ đồng vào cuối quý I.
Ngoài những cái tên kể trên, góp mặt trong Top 10 ngân hàng có số dư cho vay lớn nhất còn có ACB, Sacombank, SHB và HDBank. LPBank xếp thứ 11 trong bảng xếp hạng và là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng số dư cho vay khách hàng nhanh nhất, ở mức 11,7%.
Xét về tăng trưởng số dư tuyệt đối, VietinBank dẫn đầu (tăng thêm 41.100 tỷ đồng) , tiếp theo là Techcombank (tăng thêm 40.600 tỷ đồng) và LPBank (tăng 32.300 tỷ đồng).
Ở chiều ngược lại, có 9 nhà băng ghi nhận tăng trưởng cho vay âm, trong đó mức giảm sâu nhất thuộc về ABBank. Sau ba tháng đầu năm, số dư cho vay của ABBank đã giảm 19,3%, xuống 79.100 tỷ đồng.
Những ngân hàng có lợi nhuận giảm trong quý I/2024
Theo thống kê, trong quý I/2024, có 9 ngân hàng báo lãi giảm so với cùng kỳ năm trước và một ngân hàng thua lỗ. Tổng cộng, lợi nhuận của những nhà băng này đã giảm 9%, trong khi lợi nhuận toàn ngành tăng 10%.
Phần lớn các ngân hàng nằm trong danh sách này có quy mô nhỏ. Đồng thời, nhóm những ngân hàng nhỏ cũng ghi nhận lợi nhuận sụt giảm sâu nhất. Trong khi đó, lợi nhuận của các ngân hàng lớn thường chỉ đi xuống với tỷ lệ thấp và nguyên nhân thường do tăng trích lập dự phòng, thay vì sự sụt giảm trong hoạt động kinh doanh.
Đa số các ngân hàng có quy mô vừa (VIB) và lớn (ACB, Vietcombank, MB) ghi nhận lợi nhuận sụt giảm khoảng 10% so với cùng kỳ.
Chẳng hạn, ABBank báo cáo lãi sụt giảm nhiều nhất trong quý vừa qua trong bối cảnh lãi thuần của các mảng kinh doanh quan trọng như tín dụng, dịch vụ, ngoại hối giảm sâu đã khiến tổng thu nhập hoạt động (TOI) giảm 30,7% so với cùng kỳ. Đồng thời, chi phí dự phòng rủi ro cao gấp rưỡi khiến lợi nhuận sau thuế giảm gần 69%.
Tương tự, Saigonbank, PGBank và NCB đều ghi nhận tổng thu nhập hoạt động giảm so với cùng kỳ, đa phần do thu nhập lãi thuần giảm mạnh.
Một số ngân hàng như Vietbank và Eximbank lại ghi nhận lợi nhuận giảm chủ yếu do chi dự phòng rủi ro tín dụng gấp nhiều lần cùng kỳ (Vietbank gấp 4,5 lần, Eximbank gấp 3 lần).
Ở chiều ngược lại, các ngân hàng báo lãi giảm và có quy mô lớn như MB, VIB, ACB, Vietcombank nhìn chung vẫn duy trì được đà tăng tăng của tổng thu nhập hoạt động (trừ Vietcombank). Lợi nhuận nhóm nhà băng này giảm chủ yếu đến từ việc đẩy mạnh trích lập dự phòng, thay vì sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh.
Đồng thời, nhìn chung, kết quả kinh doanh của nhóm 4 ngân hàng lớn có lợi nhuận giảm vẫn đang đi đúng kế hoạch. Vietcombank đã thực hiện 24,8% kế hoạch năm, trong khi tỷ lệ của ACB là 22,2%. MB và VIB đều thực hiện 20,8% kế hoạch.
Trong khi đó, sau ba tháng, ABBank mới chỉ thực hiện được 7% kế hoạch đặt ra, Eximbank là 12,8% còn SaigonBank là 18,5%. PGBank là ngân hàng có tỷ lệ thực hiện kế hoạch cao nhất, đạt 20,9%.
Các ngân hàng lớn dù giảm lợi nhuận nhưng nhìn chung vẫn đang trên đà hoàn thành kế hoạch.
Lợi nhuận giảm kèm nợ xấu gia tăng
Ngoài việc báo cáo lợi nhuận sụt giảm, nhiều nhà băng trong danh sách này cũng ghi nhận số dư nợ xấu gia tăng nhanh chóng. Trong đó, nhóm ngân hàng lớn có số dư nợ xấu tăng cao hơn, trong khi nợ xấu của nhóm ngân hàng có quy mô nhỏ lại tăng ít hơn.
Nợ xấu của nhóm ngân hàng lớn tăng nhanh hơn.
Chẳng hạn, số dư nợ xấu của MB đã tăng 56%, lên 15.294 tỷ đồng, kéo theo tỷ lệ nợ xấu tăng 0,89 điểm %, nhanh thứ hai toàn ngành. Tỷ lệ nợ xấu của ACB và MB cũng tăng khoảng 0,24 điểm %, trong khi VIB là 0,6 điểm %.
Ở nhóm ngân hàng nhỏ, ABBank chứng kiến nợ xấu tăng 1,01 điểm % do dư nợ cho vay khách hàng giảm tới 19% so với cùng kỳ. Nợ xấu của ngân hàng ở mức 3,92% vào cuối quý I. Số dư nợ xấu của Vietbank tăng 22% kéo theo tỷ lệ nợ xấu đi lên 0,54 điểm %, ở mức 3,1%.
Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu của SaigonBank, PGBank, Eximbank đều tăng không quá 0,5 điểm %. Tỷ lệ nợ xấu NCB được cải thiện thêm 0,74 điểm % chủ yếu do mức tăng trưởng cho vay gần 5,5%.
