Tất cả thông tin về chương trình MBA

Trang chủKỹ NăngChứng KhoánTrái phiếu và những yếu tố ảnh hưởng tới trái phiếu

Trái phiếu và những yếu tố ảnh hưởng tới trái phiếu

Yếu tố tác động tới giá trái phiếu có khá nhiều. Bao hàm từ yếu tố khách quan đến chủ quan của chính tổ chức phát hành, từ các thị trường quốc tế tới trong nước. Bên cạnh đó, các yếu tố này còn xen kẽ lồng ghép lẫn nhau.

Do đó, chúng tôi sẽ phân loại một cách tương đối thành các yếu tố tác động cơ bản sau:

1. Mức độ tín nhiệm của tổ chức phát hành thay đổi

Đây là một yếu tố tác động lớn tới giá TP. Mức độ tín nhiệm phụ thuộc phần lớn vào khả năng tài chính của tổ chức phát hành trái phiếu. Do đó, NĐT rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của tổ chức phát hành trái phiếu. Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của đơn vị phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên TTCK.

2. Lãi suất thị trường thay đổi

Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá của các chứng khoán có lãi suất cố định. Nó cũng là yếu tố tác động cơ bản đến biến động giá TP. Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với các trái phiếu đang tồn tại sẽ thay đổi. Vốn sẽ chảy vào thị trường nào hứa hẹn lợi nhuận cao hơn. Khi đó, giá của trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm.

Giá trái phiếu giao động ngược chiều với lãi suất thị trường. Tuy nhiên tỷ lệ thay đổi giá không như nhau giữa các trái phiếu. Lãi suất(lợi tức) dự tính cũng là một yếu tố quan trọng; Nếu lãi suất dự tính cao hơn trong tương lai sẽ làm giảm nhu cầu về trái phiếu dài hạn và ngược lại.

Một yếu tố có quan hệ mật thiết và đan xen với lãi suất thị trường chính là lạm phát. Lạm phát cũng là một yếu tố tác động trực tiếp đến giá trái phiếu. Nếu lạm phát dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định như trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa. Lúc đó, trái phiếu sẽ kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng loại trừ yếu tố lạm phát. Giá trái phiếu sẽ giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng.

3. Thời gian đáo hạn thay đổi

Đây là một yếu tố tác động tới giá trái phiếu mang nét định tính. Một trái phiếu có thời gian đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp. Khi thời gian đáo hạn càng ngắn thì thị giá trái phiếu càng tiến sát tới mệnh giá nhưng vẫn nhỏ hơn mệnh giá.

Ví dụ, giá 1 trái phiếu sẽ được thanh toán theo đúng mệnh giá vào cuối năm thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi suất thị trường bình ổn, thì giá trái phiếu kể từ năm thứ 5 trở đi sẽ có khuynh hướng ngày càng cao so với giá các năm đầu tiên. Trên thực tế, người ta gọi hiện tượng này là “kéo giá tới thời hạn”.

4. Giao dịch ngày không hưởng lãi

Tại ngày giao dịch không hưởng quyền trả trái tức, giá trái phiếu cũng được điều chỉnh tương ứng với phần lãi suất được thụ hưởng.

5. Quan hệ cung cầu

Sự thay đổi trong lượng cung và cầu sẽ làm giá TP thay đổi, do đó quan hệ cung cầu cũng là một yếu tố tác động rất quan trọng. Để làm thay đổi quan hệ cung cầu này có khá nhiều yếu tố, dưới đây là những yếu tố cơ bản nhất:

Tình hình đầu tư ở các thị trường tài chính khác thay đổi làm cán cân cung cầu thay đổi dẫn đến giá TP thay đổi. Ví dụ như thu nhập: khi một nền kinh tế có tốc độ phát triển cao, thu nhập của dân chúng tăng lên, môi trường đầu tư tốt hơn thì lượng cầu trái phiếu sẽ tăng. Và ngược lại, khi rủi ro tăng lên trong nền kinh tế, với các kênh đầu tư khác rủi ro cũng tăng lên dẫn đến nhu cầu đối với các sản phẩm an toàn hơn cao lên. Khi đó nhu cầu về trái phiếu cũng tăng lên.

Tính thanh khoản: Khi các quy định về giao dịch trái phiếu thông thoáng hơn.  Cùng với đó là công nghệ hỗ trợ giao dịch ngày một tiện lợi hơn sẽ giúp việc mua bán trái phiếu ngày càng được dễ dàng thuận tiện hơn với NĐT. Khi đó, kênh đầu tư trái phiếu sẽ ngày càng hấp dẫn được thêm NĐT và lượng tiền đầu tư cho kênh này sẽ tăng dần làm cầu về trái phiếu sẽ tăng lên.

Tâm lý NĐT: Khi tâm lý NĐT thay đổi sẽ làm lãi suất yêu cầu thay đổi. Từ đó sẽ tác động tới giá trái phiếu cũng thay đổi.

Các yếu tố kinh tế, xã hội khác: Một yếu tố tiêu biểu và khá nhạy đó chính là tỷ giá. Thay đổi tỉ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán bằng nội tệ hoặc bằng đồng ngoại tệ. Ví dụ, đồng dollar Mỹ có giá trị tăng cao hơn so với đồng bảng Anh thì sẽ làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng dollar Mỹ.

Hoặc tình trạng thâm hụt ngân sách: Khi thâm hụt ngân sách Nhà nước, NN sẽ đẩy mạnh phát hành trái phiếu để bù đắp thâm hụt, lúc đó sẽ ảnh hưởng tới giá trái phiếu và lãi suất trái phiếu.

6. Đối với trái phiếu chuyển đổi

Khi giá cổ phiếu tăng thì giá trị chuyển đổi tăng nên giá trái phiếu tăng. Ngược lại, khi giá cổ phiếu giảm thì giá trị chuyển đổi giảm nên giá trái phiếu giảm nhưng có cận dưới là giá của trái phiếu thường.

Tóm lại, những yếu tố tác động và ảnh hưởng đến giá trái phiếu cũng như lãi suất trái phiếu có khá nhiều, sâu và rộng. Những yếu tố này thay đổi liên tục theo thời gian. Do đó, đòi hỏi NĐT cần theo dõi cập nhật thường xuyên diễn biến tình hình kinh tế nói chung và thị trường tài chính, doanh nghiệp nói riêng.


Lịch sử thị trường trái phiếu

Lịch sử thị trường trái phiếu (TTTP) Việt Nam có thể chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn một từ 1945-1989 là giai đoạn chưa tồn tại thị trường trái phiếu. Đây là thời kỳ quá độ trước khi hình thành TTTP. Trái phiếu được phát hành thời kỳ này là công trái Chính phủ, phát hành không dựa trên quan hệ kinh tế. Việc phát hành này dựa trên quan hệ chính trị nhằm mục đích phục vụ chiến tranh giải phóng dân tộc và tái thiết đất nước sau ngày thống nhất.

Giai đoạn hai từ 1990 tới nay là giai đoạn bắt đầu hình thành và phát triển thị trường trái phiếu. Trong giai đoạn này với sự ra đời của hệ thống kho bạc Nhà nước và đặc biệt sự ra đời của TT chứng khoán cùng với việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lý đã tạo điều kiện cho TTTP từng bước phát triển.

Thị trường trái phiếu Việt Nam đã có lịch sử giao dịch trước thị trường cổ phiếu khi từ những năm 1990 đã có trái phiếu Chính phủ và 1 số trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước được phát hành. TP này chủ yếu do các công ty bảo hiểm và ngân hàng quốc doanh nắm giữ đến khi đáo hạn. TTTP bắt đầu bằng việc phát hành tín phiếu Kho bạc kỳ hạn 3 tháng tại Hải Phòng năm 1991 và sau đó là việc phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước lớn.

Tiếp đó, trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP HCM được thành lập vào năm 2000 là một cột mốc quan trọng cho thị trường trái phiếu Việt Nam với sự ra đời của sàn giao dịch trái phiếu thứ cấp đầu tiên. Cùng với NHNN, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP HCM cũng được giao tổ chức đấu thầu một số loại trái phiếu chính phủ dài hạn. Đây là cố gắng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ của Việt Nam.

Ban đầu, từ sau năm 2000, giao dịch của trái phiếu Chính phủ dường như là độc quyền duy nhất trên thị trường. Sau đó, từ 2007 cùng với làn sóng Việt Nam gia nhập WTO thì đã có một đợt bùng nổ các trái phiếu do doanh nghiệp phát hành. Tuy nhiên, nếu tính theo tiêu chí tổng dư nợ trên GDP thì quy mô thị trường TP Việt Nam vẫn còn thấp so với một số quốc gia có trình độ phát triển hơn như Thái Lan, Malaysia… Tổng dư nợ thị trường trái phiếu tính tới tháng 3/2013 tại Thái Lan là 75% GDP, tại Malaysia là gần 110%trong khi con số này tại Việt Nam chỉ trên 20%.

Để phát triển thị trường tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế, các nhà chính sách đang nhanh chóng đẩy mạnh sự hiện diện của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng như 1 cổng thông tin tập trung về thị trường TPDN để hỗ trợ DN phát hành TP. Đồng thời, hệ thống văn bản pháp lý cho hoạt động của TTTP ngày càng được hoàn thiện. Hạ tầng kỹ thuật, hệ thống giao dịch, lưu ký, giám sát cũng liên tục được thiết lập, cải tiến.

Tất cả, nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng một thị trường trái phiếu chuyên biệt và thể hiện được vai trò của mình trên thị trường vốn. Đồng thời xây dựng và phát triển TTTP một cách bền vững. Đảm bảo an toàn hệ thống và từng bước tiếp cận các thông lệ, chuẩn mực quốc tế để trở thành một kênh huy động vốn an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, NĐT đa dạng là một yếu tố quan trọng trên thị trường, hoàn toàn phù hợp với mục tiêu phát triển cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tại các quốc gia khác trong khu vực, đối tượng tham gia trên thị trường trái phiếu bao gồm nhiều loại hình NĐT như tổ chức an sinh xã hội, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính… với NHTM là trụ cột đầu tư chính.

Năm 2017 đánh dấu một cột mốc đáng kể khi sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ đã giúp cho TTTP Việt Nam có thể đa dạng hóa hơn về mặt sản phẩm cũng như các đối tượng đầu tư.Tới nay, hàng hóa trên TTTP đã khá hoàn thiện, bao gồm: TP Chính phủ, TP chính quyền địa phương, TP do CP bảo lãnh và TP doanh nghiệp…

Dù thị trường TPDN Việt Nam đang chập chững trên những bước đi đầu tiên, xu hướng phát hành TP sẽ trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp với cơ chế chính sách chặt chẽ để rộng đường phát triển cho thị trường tiềm năng này. Theo đánh giá của bộ Tài Chính, cuối năm 2017, dư nợ của thị trường TPDN rơi vào khoảng 6,19% GDP, thể hiện tiềm năng phát triển mạnh mẽ của TTTP doanh nghiệp tại Việt Nam.

Đến hết tháng 9/2018, tổng giá trị phát hành trái phiếu là 79.515 tỷ đồng, tăng 83% so với năm 2015 là 43.500 tỷ đồng, và tăng 32% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 1,48% GDP. Ở cùng thời kỳ, trái phiếu chính phủ tăng 44% so với 2015, và chỉ tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 21,5% GDP.

Như vậy, quy mô và số lượng trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đang không ngừng được mở rộng hàng năm. Sự gia tăng này cũng thể hiện tính tất yếu phát triển của TTTP doanh nghiệp nói riêng và TTTP Việt Nam nói chung ở hiện tại và tương lai.


Các loại trái phiếu

Các loại trái phiếu có khá nhiều trên thị trường. Dựa theo các đặc điểm của trái phiếu mà người ta phân loại ra theo nhiều cách khác nhau. Chúng tôi sẽ giới thiệu đến NĐT cụ thể các cách phân loại như dưới đây. Từ việc phân loại này, NĐT sẽ dễ dàng lựa chọn ra được loại trái phiếu đầu tư phù hợp nhất cho mình trong thị trường TP hiện nay.

1.     Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu

  • Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên của người mua trên trái phiếu và trong sổ sách của nhà phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
  • Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên của người mua trên trái phiếu và trong sổ sách của người phát hành.

2.     Phân loại theo người phát hành

  • Trái phiếu Chính phủ: Do Chính phủ phát hành để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội. Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường. Vì vậy, trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất.
  • Trái phiếu ngân hàng và các tổ chức tài chính: khi ngân hàng và các tổ chức tài chính có nhu cầu huy động thêm tiền mặt để tăng thêm vốn hoạt động, các tổ chức này có thể phát hành trái phiếu.
  • Trái phiếu doanh nghiệp là những trái phiếu do doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần và công ty TNHH hạn phát hành để tăng vốn hoạt động. Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng.

3.     Phân loại dựa trên lợi tức trái phiếu

  • Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá.
  • Trái phiếu có lãi suất biến đổi (thả nổi) là loại trái phiếu mà lợi tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau. Lợi tức này được tính dựa trên một lãi suất tham chiếu (có biến đổi).
  • Trái phiếu có lãi suất bằng không là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi. Tuy nhiên, người mua được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.

4.     Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu

  • Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền chuyển đổi sang cổ phiếu của Công ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời gian chuyển đổi và tỷ lệ chuyển đổi khi mua trái phiếu.
  • Trái phiếu có thể mua lại: là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
  • Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty.

5.     Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của nhà phát hành

  1. Trái phiếu bảo đảm: là loại trái phiếu mà nhà phát hành dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền nhà phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:

a. Trái phiếu có tài sản cầm cố: là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ.

b. Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm.

2. Trái phiếu không bảo đảm: là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của tổ chức phát hành.


Đường cong lãi suất

Đường cong lãi suất thể hiện mối quan hệ giữa lãi suất của trái phiếu và kỳ hạn thanh toán của trái phiếu đó. Khi một nền kinh tế lành mạnh, ổn định, tăng trưởng…các lãi suất ngắn hạn là thấp nhất, sau đó nó tăng dần lên và tới đoạn cuối của đường cong lãi suất thì đường cong gần như nằm ngang.

Nó thể hiện sự khác biệt giữa thành quả của các NĐT có được khi chọn mua các trái phiếu ngắn hạn so với dài hạn. Bởi thông thường, thời gian đáo hạn càng dài thì rủi ro sẽ càng tăng lên, dẫn đến lợi suất càng cao và do đó đường cong lợi suất sẽ có chiều hướng đi lên. Giống như đường cong lợi suất chuẩn ở hình dưới.

Đường cong lãi suất
Đường cong lãi suất

Đường cong lãi suất có thể giúp NĐT chọn lựa các khoảng thời gian đáo hạn cho các chứng khoán có thu nhập cố định của mình. Khi xem xét đường cong lãi suất hiện thời, NĐT sẽ có thông tin về các mức lãi suất ở những thời hạn khác nhau, giúp NĐT đưa ra những quyết định đối với thời gian đáo hạn.

Nếu NĐT tin rằng lãi suất sẽ ổn định hoặc giảm xuống thì họ có thể đầu tư vào trái phiếu dài hạn có lãi suất cao nhất, ngược lại nếu NĐT tin rằng lãi suất sẽ tăng thì đầu tư vào các công cụ ngắn hạn có lãi suất cao nhất.

Đường cong lãi suất phẳng và đảo ngược là: Đường cong lợi suất đi ngang khi mức chênh lệch, hoặc khoảng chênh lệch, của các trái phiếu dài hạn và ngắn hạn rớt xuống mức 0.  Ví dụ, khi lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm không có chênh lệch so với 2 năm. Nếu khoảng chênh lệch rớt xuống mức âm, đường cong sẽ được coi là đảo ngược.

Hình ảnh minh họa bên dưới cho thấy lãi suất 10 năm đã thấp hơn 2 năm, tức chênh lệch xuống mức âm và như vậy sẽ làm đường cong đảo ngược.

Đường cong lãi suất

Đường cong lợi suất là chỉ báo quan trọng bởi: Nó là chỉ báo khá chính xác để dự báo nền kinh tế khỏe mạnh hoặc có nguy cơ suy thoái. Các nhà kinh tế thường theo dõi sát sao khoảng chênh lệch giữa trái phiếu dài hạn và ngắn hạn, thường thấy nhất là 10 năm và 2 năm. Và đặc biệt chú ý khi đường cong bị đảo ngược.

Lịch sử cho thấy đường cong lợi suất phản ánh khá chính xác dự báo của thị trường về nền kinh tế, đặc biệt là lạm phát. NĐT nhận thấy lạm phát sẽ tăng thì sẽ đòi hỏi mức lợi suất cao hơn để bù đắp. Bởi lạm phát thường đi kèm với tăng trưởng kinh tế, NĐT lạc quan về tương lai và khi đó đường cong lợi suất sẽ dốc lên.

Ngược lại, đường cong LS đảo ngược sẽ là chỉ báo đáng tin cậy cho thấy nền kinh tế có nguy cơ suy thoái. Tuy nhiên, ở một số thời điểm chỉ báo này vẫn diễn ra khá lâu trước khi suy thoái kinh tế và đà giảm tốc diễn ra.

Chương trình ưu đãi đặc biệt: Mở tài khoản chứng khoán Techcombank Securities với Cố vấn đầu tư cao cấp, quản lý tài sản và ủy quyền đầu tư. Chi tiết liên hệ Hotline/ Zalo/ Telegram: 0905 889 188
Hung.MBAhttps://mbaz.net
Mình là Hung.MBA, tốt nghiệp MBA của RMIT Việt Nam. Đây là Blog cá nhân của mình. Là một doanh nhân người Việt, hiện đang đương nhiệm vai trò: CEO của HSMA | Mentor cho VDomain | Co-Founder của Lelp >>> Tự nhận thấy: - Yêu màu hồng, ghét sự giả dối. - Thích màu tím thủy chung, ghét sự cô đơn. - Sống nội tâm, hay khóc thầm và yêu bóng tối. - Thích thể thao, đam mê công nghệ. - Thích linh tinh thì làm marketing.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Exit mobile version