Việc giữ tiền mặt ngày càng phức tạp.
Chứng chỉ tiền gửi (CD), quỹ thị trường tiền tệ và nhiều khoản đầu tư tương đương tiền đã mang lại lợi nhuận tốt. Từ khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) bắt đầu tăng lãi suất hai năm trước, nhiều trường hợp có lãi suất trên 5%.
Nhưng sau cuộc họp gần nhất hôm 19-20/3, ngân hàng trung ương đã phát đi tín hiệu rằng họ dự kiến sẽ cắt giảm lãi suất 3 lần trong năm nay. Một số khoản đầu tư tương đương tiền vẫn ổn định, nhưng một số khác bắt đầu giảm mức độ sinh lời.
Sự thay đổi đang diễn ra đối với CD. Theo dữ liệu của Bankrate theo dõi mức lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính đưa ra, việc chốt lãi suất 5% kỳ hạn 12 tháng vào năm ngoái rất dễ dàng. Hiện tại, chỉ có CD ngắn hạn mới có mức lãi suất cao, chẳng hạn như CD kỳ hạn 3 tháng có lãi suất tới 5,5%. Trong khi đó, CD kỳ hạn 2 năm có lãi suất dưới 5%, giảm so với mức 5,5% vào cuối năm ngoái.
Giám đốc điều hành Adam Stockton của công ty tư vấn và dữ liệu Curinos, cho biết khoảng 70% số CD lãi suất cao được mở vào tháng 2 tồn tại chưa đầy một năm.
Ông cho biết: “Hầu hết người dùng nhìn vào lãi suất trước, rồi mới đến kỳ hạn”. Nhưng thời hạn lại là yếu tố quan trọng hơn, đặc biệt là nếu ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất vào cuối năm nay.
Lãi suất chứng chỉ tiền gửi cao nhất, xét theo từng kỳ hạn: đỏ – 3 tháng, xanh lá – 1 năm, xanh dương – 6 tháng, tím- 2 năm
Kể từ khi FED tăng lãi suất đầu năm 2022, người Mỹ đã tập trung sát sao hơn vào nơi mà họ cất giữ tiền mặt (gửi ngân hàng với lãi suất cao). Vào thời điểm đó, cổ phiếu và trái phiếu giảm mạnh. Các sản phẩm tiền mặt bắt đầu đưa ra mức lãi suất cao hơn sau nhiều năm gần như không trả gì.
Khi các ngân hàng khu vực ở Mỹ phá sản năm 2023, tiền đã dồn nhiều hơn vào các quỹ thị trường tiền tệ. Hiện số tiền đạt kỷ lục ở mức 6.500 tỷ USD. Theo Crane Data, lãi suất trung bình của các quỹ này đạt đỉnh 5,2% vào tháng 12 và hiện là 5,14%.
FED vẫn có thể quyết định hoãn cắt giảm lãi suất. Mặc dù các ngân hàng trung ương đã đưa ra kế hoạch 3 đợt hạ lãi suất, nhưng họ có thể thay đổi nếu lạm phát vẫn ở mức cao. Lạm phát trong tháng 2 đã mạnh hơn một chút so với dự kiến.
Theo Curinos, 60% tổng số CD mà người tiêu dùng mua trong tháng 2 đều có lãi suất trên 5% và gần như tất cả đều đạt trên 4,5%. Điều này chứng tỏ lãi suất vẫn ở mức cao.
Ngoài việc thay đổi chiến thuật với tiền mặt, các nhà đầu tư cũng đang dành tiền để đầu tư vào lĩnh vực khác. Đặc biệt, thị trường chứng khoán đã thu hút nhiều người tham gia. Chỉ số S&P 500 đã tăng khoảng 30% trong năm qua.
Cố vấn tài chính Ashlea Jones của Prime Capital Investment Advisors cho biết một số khách hàng của cô gần đây đã quay trở lại thị trường chứng khoán sau khi CD của họ đáo hạn.
Dafina Smith là một chủ doanh nghiệp 45 tuổi ở Connecticut. Cô đã mua CD kỳ hạn 3 tháng vào năm ngoái với lãi suất 3,75%, rồi đến CD kỳ hạn 10 tháng với lãi suất 5,2%. Sau đó, cô mua tín phiếu kho bạc kỳ hạn 6 tháng.
Nhưng vào tháng 2 năm nay, Smith đã thay đổi chiến thuật. Cô dần dần bắt đầu đưa số tiền từ các sản phẩm tiền mặt đáo hạn trở lại thị trường chứng khoán.
Theo các cố vấn tài chính, một khi FED cắt giảm lãi suất thì lãi suất tiết kiệm có thể giảm đầu tiên, vì chúng thay đổi hàng tháng. Tiếp theo là tín phiếu kho bạc và chứng chỉ tiền gửi.
Điều này dẫn đến việc nhà đầu tư có một loạt những cân nhắc mới.
Ví dụ, nếu lãi suất giảm trong năm nay, một người mua CD kỳ hạn 1 năm hôm nay ở mức 5% có thể sẽ nhận được nhiều tiền lãi hơn so với người mua với lãi suất cao hơn với kỳ hạn chỉ trong 6 tháng.
Những người về hưu hoặc những người mua nhà trong tương lai muốn tăng số tiền lãi có thể thấy rằng CD kỳ hạn 2 năm với lãi suất 4,5% vẫn có giá trị. Phó chủ tịch cấp cao về kế hoạch tài sản Heather Welsh tại Sequoia Financial cho biết đó vẫn là dòng thu nhập có thể kiểm soát từ số tiền mà họ chưa cần ngay lập tức.
Theo WSJ
Gió bắt đầu đổi chiều: Hàng loạt NHTW đảo ngược chính sách lãi suất
Có lẽ sự đảo ngược chính sách của các ngân hàng trung ương hàng đầu thế giới đã chính thức bắt đầu. Trong tuần này, Thụy Sĩ đã trở thành nền kinh tế lớn đầu tiên cắt giảm lãi suất và Ngân hàng trung ương Nhật Bản cũng tăng lãi suất lần đầu tiên sau 17 năm.
Thị trường vẫn đang cố gắng đánh giá khi nào hầu hết các ngân hàng trung ương có ảnh hưởng trên thế giới sẽ bắt đầu nới lỏng chính sách tiền tệ thắt chặt mà họ đã áp dụng trong hai năm qua nhằm kiềm chế đà tăng cao của lạm phát.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ)
Nhật Bản là một trường hợp ngoại lệ, nước này đã duy trì lãi suất âm trong 17 năm nhằm kích thích nền kinh tế trì trệ và thúc đẩy lạm phát. Thử nghiệm đó, cùng với các chính sách độc đáo về kiểm soát đường cong lợi suất cuối cùng đã kết thúc vào thứ 3 tuần này.
Đối với mức tăng lương sau cuộc đàm phán tiền lương mùa xuân, các nhà hoạch định chính sách của BOJ kỳ vọng mức lương cao mới sẽ thúc đẩy nhu cầu trong nước, từ đó tạo đà tăng cho lạm phát.
Tomoya Masanao, đồng Giám đốc Pimco Japan cho biết tác động trung và dài hạn của những thay đổi này có thể sâu sắc hơn những gì thị trường dự đoán, và câu hỏi quan trọng là tỷ lệ lạm phát của Nhật Bản sẽ duy trì ở mức nào sau đại dịch Covid-19.
“Mặc dù BOJ đã nhấn mạnh mục tiêu lạm phát 2%, tuy nhiên, ngân hàng này sẽ khó có thể duy trì chính sách tiền tệ đủ dài để đạt được mục tiêu này”, ông nhận định.
“Những điều chỉnh chính sách trung hạn của BOJ có thể sẽ liên quan đến cả việc giảm bảng cân đối kế toán và tăng lãi suất. Bất chấp những trở ngại tiềm ẩn từ suy thoái kinh tế toàn cầu và việc cắt giảm lãi suất từ các ngân hàng trung ương lớn khác, BOJ vẫn sẵn sàng giảm bảng cân đối kế toán cực lớn của mình một cách chậm rãi nhưng chắc chắn”, ông nói thêm.
Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ (SNB)
Hôm thứ 5, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ (SNB) đã bất ngờ cắt giảm lãi suất 0,25 điểm phần trăm xuống 1,5% cũng như cho biết lạm phát có khả năng sẽ duy trì ở mức dưới 2% trong tương lai gần.
SNB cũng dự báo lạm phát nước này đạt 1,4% vào cuối năm 2024, 1,2% năm 2025 và 1,1% năm 2026. Ngân hàng trung ương cũng cho biết sức mạnh của đồng franc Thụy Sĩ là một trong những nguyên nhân khiến cơ quan này quyết định nới lỏng chính sách.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)
Hôm thứ 4, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã quyết định giữ phạm vi lãi suất ổn định ở mức 5,25%-5,5%, cũng như đưa ra dự báo về ba đợt cắt giảm lãi suất trong năm 2024, với mỗi đợt giảm 25 điểm cơ bản.
Theo công cụ FedWatch của CME Group, thị trường dự doán khả năng lên đến 70% đợt cắt giảm đầu tiên sẽ diễn ra tại cuộc họp ngày 11-12/6 của Fed.
Kỳ vọng cắt giảm lãi suất vẫn được duy trì bất chấp dự báo tăng trưởng cao hơn, tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn và lạm phát lõi cao hơn một chút so với dự kiến.
Ngân hàng Trung ương Anh (BoE)
Hôm thứ 5, Ngân hàng Trung ương Anh cũng giữ lãi suất ổn định ở mức 5,25% – mức cao nhất trong vòng 16 năm qua, qua đó loại bỏ mọi dự đoán về đợt cắt giảm lần này trong bối cảnh lạm phát đã giảm song vẫn ở mức cao.
Trong tuyên bố cùng ngày, Thống đốc BoE Andrew Bailey nhấn mạnh nền kinh tế Anh chưa đến ngưỡng để có thể cắt giảm lãi suất, nhưng mọi việc vẫn diễn ra theo đúng lộ trình.
Tương lai sẽ ra sao?
Đây là tuần quan trọng của thị trường tài chính toàn cầu. Hiện tại, mọi người đều đang thận trọng xem xét và đánh giá diễn biến tương lai sẽ ra sao.
Về phía Nhật Bản, nhiều chuyên gia cho rằng, tác động dài hạn do chính sách lãi suất dương mà nước này tạo ra có thể rất sâu sắc. Nó có thể ảnh hưởng từ lãi suất thế chấp đến tài chính của chính phủ Mỹ. Nhật Bản là quốc gia nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ lớn nhất ở nước ngoài. Nước này cũng là nhà cho vay lớn ở nước ngoài và quốc gia xuất khẩu hùng mạnh.
Việc tăng lãi suất cao hơn cũng có thể ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của các ngân hàng tư nhân, ảnh hưởng đến việc huy động vốn của các công ty vừa và nhỏ tại Nhật Bản. Bên cạnh đó, nếu đồng Yên tăng giá do lãi suất dài hạn tăng thì các doanh nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản sẽ bị ảnh hưởng.
Mặt khác, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm nay cũng sẽ tạo ra ảnh hưởng lớn. Theo CNBC, ông Donald Trump từng công khai tuyên bố rằng nếu đắc cử Tổng thống sẽ áp thuế quan bổ sung đối với hàng hóa từ Trung Quốc, có thể ở mức 60% hoặc cao hơn.
“Điều đó có thể khiến lạm phát tăng ở Mỹ khiến Fed buộc phải tăng lãi suất trở lại. Nó cũng sẽ có một số tác động đến nền kinh tế Nhật Bản”, Keiji Kanda, nhà kinh tế cấp cao tại Viện nghiên cứu Daiwa nhận định.
Về phía Anh, nền kinh tế nước này đã rơi vào suy thoái kỹ thuật trong quý IV/2023 và trải qua hai năm trì trệ. Vì vậy, ngân hàng trung ương nước này buộc phải cân bằng giữa việc đưa lạm phát trở lại mức 2% và tránh đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy thoái kéo dài.
