Cụ thể, về vận tải, khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt khoảng 715 triệu tấn; khối lượng vận chuyển hành khách đạt khoảng 397 triệu lượt khách; khối lượng luân chuyển hàng hóa đạt khoảng 150 tỷ tấn.km; khối lượng luân chuyển hành khách đạt khoảng 7,7 tỷ khách.km.
Về kết cấu hạ tầng, Chính phủ xác định cải tạo nâng cấp các tuyến chính có mật độ vận tải cao, đáp ứng chạy tàu 24/24 giờ; phấn đấu tổng chiều dài các tuyến khai thác đồng bộ theo cấp kỹ thuật đạt khoảng 5.000 km; phát triển hệ thống cảng, bến thủy nội địa đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách trên các hành lang vận tải thủy;
Chính phủ xác định từng bước hiện đại hóa các cảng chính, cảng chuyên dùng; kênh hóa các đoạn sông qua đô thị lớn và chuyển đổi công năng cảng thủy nội địa xếp dỡ hàng hóa phù hợp với quá trình đô thị hóa; hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa.
Theo đó, Quyết định nêu rõ, quy hoạch 9 hành lang vận tải thủy gồm:
– 01 hành lang ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang (khu vực miền Trung thuộc hành lang ven biển);
– 04 hành lang khu vực miền Bắc (Quảng Ninh – Hải Phòng – Hà Nội, Quảng Ninh – Hải Phòng – Ninh Bình, Hà Nội – Nam Định – Ninh Bình và Hà Nội – Việt Trì – Lào Cai);
– 04 hành lang khu vực miền Nam (TP.HCM – Cần Thơ – Cà Mau, TP.HCM – An Giang – Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu – Tây Ninh – TP.HCM và hành lang vận tải thủy kết nối với Campuchia qua sông Tiền, sông Hậu).
Trên các hành lang này gồm các tuyến vận tải chính và một số tuyến vận tải nhánh.
Như vậy, sẽ có 55 tuyến vận tải chính trên 140 sông, kênh với tổng chiều dài khoảng 7.300 km (trong đó khai thác đồng bộ theo cấp kỹ thuật đạt khoảng 5.000 km) gồm:
– Miền Bắc có 18 tuyến chính trên 49 sông, kênh với tổng chiều dài khoảng 3.028 km;
– Miền Trung có 11 tuyến chính trên 28 sông, kênh với tổng chiều dài khoảng 1.229 km;
– Miền Nam có 26 tuyến chính trên 63 sông, kênh với tổng chiều dài khoảng 3.043 km;
Đồng thời, quy hoạch 54 cụm cảng hàng hóa, tổng công suất khoảng 361 triệu tấn, gồm:
– Miền Bắc có 25 cụm cảng, tổng công suất khoảng 199 triệu tấn;
– Miền Trung có 8 cụm cảng, tổng công suất khoảng 9 triệu tấn;
– Miền Nam có 21 cụm cảng, tổng công suất khoảng 153 triệu tấn;
Ngoài ra, quy hoạch 39 cụm cảng hành khách chính với tổng công suất khoảng 53,4 triệu lượt khách, gồm:
– Miền Bắc có 10 cụm cảng, tổng công suất khoảng 10,9 triệu lượt khách;
– Miền Trung có 14 cụm cảng, tổng công suất khoảng 2,5 triệu lượt khách;
– Miền Nam có 15 cụm cảng, tổng công suất khoảng 40 triệu lượt khách;
Mỗi cụm cảng hàng hoá, hành khách gồm các cảng thủy nội địa chính và cảng thủy nội địa vệ tinh. Cỡ tàu quy hoạch cảng thủy nội địa là cỡ tàu đồng bộ theo cấp kỹ thuật quy hoạch tuyến luồng đường thủy, trong quá trình triển khai, tùy theo điều kiện về hạ tầng luồng, thông số phương tiện, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định cỡ tàu khai thác bảo đảm an toàn, hiệu quả.
Cảng chuyên dùng được quy hoạch phát triển theo nhu cầu vận tải phục vụ trực tiếp và phù hợp với quy hoạch các khu kinh tế, khu công nghiệp, nhà máy sản xuất, đóng mới sửa chữa phương tiện, chế biến nông, lâm, thủy sản.
Về định hướng phát triển đường thủy nội địa địa phương, Quyết định của Chính phủ quy hoạch đường thủy nội địa địa phương thực hiện theo phương án phát triển mạng lưới giao thông tỉnh trong quy hoạch tỉnh được quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 27 Luật Quy hoạch.
|
Theo tờ trình của Bộ GTVT, nhu cầu vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đường thuỷ nội địa giai đoạn 2021-2030 khoảng 157.533 tỷ đồng, không bao gồm kinh phí đầu tư luồng và các cảng chuyên dùng.
Trong đó, nguồn ngân sách Nhà nước khoảng 28.919 tỷ đồng (chiếm khoảng 18%); nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước khoảng 128.614 tỷ đồng (chiếm khoảng 82%).
Tầm nhìn 10 năm tới sẽ ưu tiên đầu tư cải tạo nâng cấp luồng tuyến, nâng tĩnh không các cầu trên tuyến vận tải chính yếu khu vực đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
|
