Theo ACBS tiếp tục giữ quan điểm việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong năm nay sẽ không có sự thay đổi lớn miễn là tỷ lệ lạm phát duy trì trong mức 4%, chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn có xu hướng tiếp tục mở rộng để hỗ trợ phục hồi kinh tế.

Bất chấp lạm phát cao ở Mỹ và việc Fed và các ngân hàng trung ương lớn khác tăng lãi suất, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) duy trì kỳ vọng CPI của Việt Nam năm nay tăng trong khoảng 3,2 – 4% và vẫn nằm trong mục tiêu của Chính phủ.
Mặc dù lo ngại những sự kiện đó có thể giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những quý sắp tới của năm 2022, ACBS tiếp tục kỳ vọng tăng trưởng GDP sẽ cao trong quý III và IV, đặc biệt quý III có thể tăng trên 10%.
Các chuyên gia tại đây cho rằng kinh tế có nhiều yếu tố hỗ trợ như tất cả các hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi và tăng trưởng, qua đó sẽ thúc đẩy các hoạt động từ khu vực FDI về mặt đầu tư và xuất khẩu.
Ngoài ra Việt Nam nổi lên như một trung tâm sản xuất công nghiệp thay thế nhằm bù đắp sản lượng mất mát, do chiến lược Zero-COVID của Trung Quốc, điều này sẽ tiếp tục thúc đẩy phục hồi các hoạt động sản xuất công nghiệp.
Một yếu tố nữa là sự phục hồi mạnh mẽ của các ngành dịch vụ cũng sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng toàn nền kinh tế những tháng cuối năm.
Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ tiếp tục duy trì mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức 14% vào năm 2022, cho thấy khả năng hệ thống ngân hàng được cấp thêm 2% hạn mức tăng trưởng tín dụng từ giờ tới cuối năm nay tùy vào diễn biến kinh tế vĩ mô.
Theo kịch bản tích cực, ACBS dự báo tăng trưởng GDP quý III có thể đạt mức cao nhất là 14,7%, 6 tháng cuối năm tăng 7,1 – 10,4% và 6,8 – 8,5% cả năm.
Khối phân tích tiếp tục giữ quan điểm việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong năm nay sẽ không có sự thay đổi lớn miễn là tỷ lệ lạm phát duy trì trong mức 4%, chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn có xu hướng tiếp tục mở rộng để hỗ trợ phục hồi kinh tế.
Ngoài ra, tác động chính của việc Fed tăng lãi suất chủ yếu ảnh hưởng đến dòng vốn nước ngoài. Trong ngắn hạn, với lịch sử các đợt tăng lãi suất của Fed, dòng vốn vào các thị trường mới nổi sẽ luôn đảo chiều và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.
Tuy nhiên, ACBS kỳ vọng dòng vốn ra khỏi thị trường Việt Nam sẽ chủ yếu đến từ thị trường tài chính.
“Việt Nam, với nền tảng vĩ mô tốt và chừng nào lạm phát còn được duy trì ở mức dưới 4% sẽ tiếp tục là điểm đến đầu tư của các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là trong ngành công nghiệp sản xuất”, các chuyên gia tại đây nhận định.
Một yếu tố hỗ trợ nữa, như đã đề cập ở trên là xuất khẩu vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và sản xuất công nghiệp vẫn phục hồi tốt.
Fed tăng lãi suất gây ra 4 tác động với kinh tế Việt Nam
Trong cuộc phỏng vấn mới đây với Báo Chính phủ, TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia nói vè 4 tác động khi Fed tăng lãi suất với nền kinh tế Việt Nam.
Theo ông, đây là lần thứ 3 Fed tăng lãi suất trong năm nay và mỗi lần Fed tăng lãi suất, tác động đều thể hiện rất rõ. Theo đó, mặt bằng lãi suất trên thế giới sẽ tăng lên, nhất là lãi suất đồng USD. Đồng thời, tỷ giá tăng lên do đồng USD tăng. Ngoài ra, đối với một số quốc gia thì nghĩa vụ trả nợ cũng bị tăng lên và cuối cùng là hiện tượng dịch chuyển dòng vốn đầu tư, nhất là vốn đầu tư gián tiếp.
“Rất may với Việt Nam cả 4 tác động này về cơ bản ở mức vừa phải và vẫn trong tầm kiểm soát. Chính vì vậy, tôi cho rằng Việt Nam vẫn hoàn toàn kiểm soát được lạm phát ở mức khoảng 4% trong năm nay và tỷ giá biến động xoay quanh mức 3%”, ông nói.
Về tác động dịch chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài, theo ông đánh giá, tại Việt Nam, các nhà đầu tư vẫn mua ròng trên thị trường chứng khoán, dù không nhiều, đâu đó khoảng vài chục triệu USD, song điều này vẫn tốt hơn rất nhiều so với các nước bị bán ròng vài tỷ USD.
“Tôi cho rằng, khi Fed tăng lãi suất thì lãi suất trong nước những tháng cuối vẫn có xu hướng tăng. Cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều sẽ tăng nhẹ. Lãi suất cho vay về cơ bản sẽ tăng chậm hơn lãi suất huy động và có thể mức tăng không đáng kể vì chỉ đạo chung của Quốc hội, của Chính phủ là phải ổn định mặt bằng lãi suất cho vay để hỗ trợ phục hồi cho doanh nghiệp”, TS. Cấn Văn Lực nói thêm.
Đối với vấn đề lạm phát, vị chuyên gia nhấn mạnh, khi thế giới đang có nhiều biến động, ngân hàng Trung ương các nước đang thắt chặt nhanh tiền tệ, cộng với việc Fed tăng lãi suất, điều này sẽ tác động đến kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Về cơ bản, Chính phủ đã liên tục chỉ đạo cần phải theo dõi và phản ứng để có các chính sách phù hợp. Tôi cho rằng đây là những hành động rất kịp thời.
Cụ thể là Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, các bộ, ngành có liên quan… phải theo dõi, nhận định tình hình chính xác và đưa ra các giải pháp để vừa giảm thiểu rủi ro tác động, vừa có thể tận dụng những cơ hội để ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi.
Có thể thấy, trong bối cảnh đồng tiền nhiều nước mất giá rất mạnh so với đồng USD, thì đồng tiền Việt Nam vẫn thuộc nhóm ít mất giá nhất so với khu vực và thế giới.
“Mặc dù thách thức lớn nhất trong điều hành kinh tế vĩ mô vẫn là kiểm soát lạm phát, nhưng tôi tin Việt Nam vẫn có thể kiểm soát lạm phát khoảng 4% như mục tiêu Quốc hội đề ra. Chúng ta kiên trì các giải pháp theo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng ‘ổn định không có nghĩa là cố định’ mà theo sát mọi diễn biến để điều hành phù hợp với tình hình”, TS. Cấn Văn Lực chia sẻ.
Chiều 21/9 theo giờ Mỹ (tức rạng sáng 22/9 theo giờ Việt Nam), Cục Dự trữ Liên bang (Fed) thông báo tăng lãi suất quỹ liên bang thêm 75 điểm cơ bản, đồng thời thể hiện quyết tâm sẽ tiếp tục thắt chặt tiền tệ mạnh tay nhằm khống chế lạm phát.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chiều 22/9 thông báo nâng trần lãi suất huy động kỳ hạn 1-6 tháng từ 4% lên 5%, lãi suất tái cấp vốn từ 4% lên 5%, lãi suất tái chiết khấu từ 2,5% lên 3,5% và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 5% lên 6%.
