Chiều 11/1, Nghị quyết về chính sách tài khoá, tiền tệ để hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội được 424 đại biểu tán thành (84,97%).
Nghị quyết chưa đề cập tổng quy mô gói chính sách tài khoá, tiền tệ (gồm các nguồn huy động quỹ ngoài ngân sách) nhưng trong đó khoản tăng chi đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước tối đa là 176.000 tỷ đồng trong hai năm (2022 – 2023).
Giải pháp tài khoá với tổng quy mô 221.000 tỷ đồng, gồm miễn, giảm thuế phí, đầu tư phát triển và một số chính sách tài khoá khác. Trong đó, riêng chính sách tăng chi cho đầu tư, phát triển (y tế, an sinh xã hội, việc làm, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng…) từ nguồn ngân sách là 176.000 tỷ đồng trong hai năm (2022 – 2023).
Chính sách tiền tệ sẽ tập trung giải pháp để điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ lãi suất, tiếp tục tiết giảm chi phí quản lý để phấn đấu giảm lãi suất cho vay tối thiểu 0,5-1% trong 2 năm; cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, miễn giảm lãi suất… Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ tiếp tục được tái cấp vốn để cho vay trả lương ngừng việc, phục hồi sản xuất…
Một số ý kiến cho rằng mức giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) 2% là thấp, nên tăng lên 3%. Nhưng dự thảo Nghị quyết vẫn giữ nguyên mức giảm 2% thuế VAT trong năm 2022 với các mặt hàng đang áp thuế suất 10%, trừ một số lĩnh vực như viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, bất động sản, khai khoáng, hoá chất…
Giải trình về việc này, ông Vũ Hồng Thanh, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế, người thừa uỷ quyền Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cho biết mức giảm 2% là hợp lý nhằm kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp sớm phục hồi và đảm bảo điều kiện hỗ trợ của ngân sách.
Ông Vũ Hồng Thanh, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế. Ảnh: Hoàng Phong
Ngoài ra, các khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 sẽ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, cho kỳ tính thuế năm 2022.
Theo dự thảo Nghị quyết, gói chính sách tài khoá sẽ dành khoảng 40.000 tỷ đồng để hỗ trợ lãi suất 2% một năm thông qua hệ thống ngân hàng thương mại cho một số ngành, lĩnh vực quan trọng và doanh nghiệp, hộ kinh doanh có khả năng trả nợ, phục hồi… Các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ căn cứ xác định mức hỗ trợ, đối tượng thụ hưởng, cũng như cơ chế kiểm soát, điều kiện thụ hưởng để tránh trục lợi.
Ông Vũ Hồng Thanh nhận xét, mức hỗ trợ lãi suất này được xác định trên cơ sở mức chênh giữa lãi suất huy động và cho vay bình quân trên thị trường, hiện khoảng 4%.
“Mức hỗ trợ lãi suất 2% là phù hợp với khả năng ngân sách, tránh được tình trạng trục lợi chính sách; việc triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất được giao cho Chính phủ thực hiện. Do vậy, xin Quốc hội cho giữ như dự thảo Nghị quyết”, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế nêu.
Cũng theo ông Thanh, dự thảo Nghị quyết đã có nhiều nội dung hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp như giảm, giãn, hoàn thuế, phí… và giao Chính phủ tiếp tục cải cách thủ tục cho vay, thủ tục hành chính để tăng khả năng tiếp cận vốn.
“Chính sách hỗ trợ có quy mô, nguồn lực đủ lớn, tác động cả phía cung và cầu, có mục tiêu trọng tâm, trọng điểm, xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ để giải quyết các vấn đề cấp bách”, ông nhận xét.
Để có nguồn lực thực hiện các chính sách tài khoá hỗ trợ chương trình phục hồi kinh tế, Quốc hội cho phép tăng bội chi ngân sách Nhà nước trong hai năm (2022 – 2023) bình quân 1-1,2% GDP một năm, tối đa 240.000 tỷ đồng.
Trong đó, bội chi năm 2022 tăng khoảng 1,1% GDP, tối đa 102.800 tỷ đồng so với dự toán Quốc hội đã quyết định. Mức bội chi tăng thêm năm 2023 sẽ được Chính phủ trình Quốc. hội xem xét, quyết định sau khi tổng hợp kế hoạch, dự toán ngân sách Nhà nước.
Quốc hội đề nghị Chính phủ và các cơ quan liên quan thực hiện các chính sách, giải pháp để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Chính phủ cũng được yêu cầu sử dụng tối đa, hiệu quả các nguồn lực trong các kế hoạch trung, dài hạn 2021 – 2025; cũng như tiết kiệm các khoản chi, quản lý chặt các nguồn thu, tăng thu, chống thất thu thuế, chuyển giá… để có thêm nguồn lực cho phục hồi kinh tế.
Việc phát hành trái phiếu Chính phủ, bảo đảm nguyên tắc phối hợp chặt chẽ trong điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, tiền tệ…
Cũng tại Nghị quyết này, Quốc hội cho phép áp dụng một số cơ chế đặc thù trong năm 2022 – 2023. Theo đó, Thủ tướng và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định chỉ định thầu với các gói tư vấn, gói thầu di dời hạ tầng kỹ thuật, đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư, các dự án hạ tầng quan trọng về giao thông, y tế.
Thủ tướng quyết định cho UBND các địa phương có đủ năng lực, kinh nghiệm quản lý làm các đoạn tuyến đường cao tốc theo hình thức đầu tư công đi qua địa bàn, trừ dự án đường bộ cao tốc Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2021- 2025.
Nghị quyết này có hiệu lực tới hết năm 2023. Riêng chính sách tài khóa về đầu tư phát triển và các chính sách tài khoá khác được áp dụng cho năm ngân sách 2022 – 2023.
Hằng năm, Kiểm toán Nhà nước sẽ kiểm toán việc thực hiện các gói chính sách hỗ trợ này nhằm tránh tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối các năm 2022, 2023 và kỳ họp giữa năm 2024.

Chương trình hỗ trợ kinh tế được thông qua sẽ tác động ra sao đến TTCK năm 2022?
Đối với thị trường chứng khoán, ông Trần Thăng Long (BSC) cho rằng năm nay sẽ là năm có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư và có thể là cơ hội sẽ đến tương đối sớm trong giai đoạn đầu năm, còn giữa năm thì chúng ta sẽ có khó khăn một chút, do chính sách tiền tệ ở một số quốc gia chủ chốt trên thế giới họ có xu hướng thắt chặt đi.
Chính phủ đã chính thức trình Quốc hội xem xét chương trình hỗ trợ và phục hồi kinh tế-xã hội. Chương trình với quy mô dự kiến là 350.000 tỷ đồng, bao gồm 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, dự kiến thực hiện trong năm 2022-2023.
Trước đó, thị trường chứng khoán đã có những phản ứng đi trước về thông tin gói hỗ trợ. Tuy nhiên, nếu thực sự gói hỗ trợ này được thông qua sẽ giúp tác động như thế nào đến các doanh nghiệp, thị trường chứng khoán và nền kinh tế năm 2022?
Tại Talkshow Phố Tài Chính trên kênh VTV8, ông Trần Thăng Long, Giám đốc phân tích CTCK BIDV (BSC) đã có những đánh giá về tác động của gói hỗ trợ kinh tế.
Theo ông Long, trong vòng một năm vừa qua theo thống kê của IMF, số lượng gói kích thích kinh tế toàn cầu là khoảng 18.000 tỷ, tương đương với khoảng 16% GDP toàn cầu. Trong khi đó, các quốc gia phát triển thường có gói kích thích kinh tế lớn hơn khoảng 25% GDP và những quốc gia mới nổi như Việt Nam thì có gói kích thích kinh tế có quy mô là khoảng 7,5% GDP. Gói vừa được đề xuất là khoảng 350.000 tỷ đồng cộng với 270.000 tỷ đồng đã giải ngân năm 2021 thì cộng lại quy mô về mặt tương đối so với GDP cũng khoảng 8%, đây là mức tương đương với các quốc gia mới nổi, phần nào cũng nằm trong kỳ vọng của thị trường.
Giám đốc phân tích BSC cho rằng đề xuất liên quan đến giảm khoảng 2% thuế VAT đối với rất nhiều loại hàng hóa, từ 10% xuống khoảng 8% sẽ tập trung vào giảm chi phí của người tiêu dùng xuống và tăng nhu cầu của người tiêu dùng lên.
Trong khi đó, gói đầu tư hạ tầng rất quan trọng, không chỉ góp phần tăng trưởng GDP mà còn giảm chi phí chung của toàn xã hội, từ đó thu hút nguồn đầu tư tạo ra động lực tăng trưởng mới trong tương lai.
Ngoài ra, chính sách tiền tệ sẽ được điều tiết một cách linh hoạt theo xu hướng giảm mặt bằng lãi suất từ 0,5-1% trong vòng 1-2 năm tới. Ông Trần Thăng Long đánh giá điều này rất quan trọng khi mà tổng quy mô tín dụng của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đang xấp xỉ khoảng 10 triệu tỷ đồng.
“Có thể hình dung với 0,5-1% lãi suất sẽ tương đương với quy mô kích thích 50.000-100.000 tỷ đồng/năm. Nếu như mặt bằng lãi suất được giảm thì sẽ hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp và cho người dân. Từ đó, phục hồi được cầu thì sẽ phục hồi được nền kinh tế của Việt Nam trên mức tăng trưởng tiềm năng là 6,5% GDP/năm”, ông Long cho biết.
Gói kích thích kinh tế chưa tác động quá lớn tới lạm phát Việt Nam
Theo ông Trần Thăng Long, những cuộc khủng hoảng kinh tế giống như những chu kỳ khó tránh khỏi được, nó sẽ kéo dài 5 năm, 10 năm thậm chí 20 năm sẽ lặp lại một lần. Khi mà khủng hoảng xảy ra thì biện pháp tốt nhất để chống lại khủng hoảng là tăng cường chi tiêu và từ đó phục hồi nhu cầu trong nước.
Theo thống kê từ IMF, gần như trong 200 quốc gia thì quốc gia nào cũng đưa ra những chính sách tương tự như vậy. Và Việt Nam cũng đang học từ những kinh nghiệm của họ. Trong những năm vừa rồi, Châu Âu, Mỹ, những quốc gia phát triển có phản ứng khá là mạnh, sau đấy chỉ số CPI chỉ số lạm phát tăng lên mức 5%, 6% là mức rất đáng ngạc nhiên, trong khi đó, Việt Nam có gói kích thích kinh tế vừa phải vào năm ngoái, CPI vẫn đang ở dưới 2% trong năm 2021.
Ông Long đánh giá Việt Nam đang có những lợi thế nhất định, do vậy gói kích thích kinh tế ở quy mô 350.000 tỷ đồng thì sẽ không phải quá là một cú sốc lớn với nền kinh tế, tương đương trung bình ở các quốc gia mới nổi khác, chúng ta sẽ nhìn thấy là lạm phát sẽ vẫn duy trì ở mức độ tương đương với cả mục tiêu có thể từ 3-4%.
Chuyên gia BSC đánh giá năm 2022 là một năm kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ khởi sắc, so với 2 năm trước đây, Việt Nam sẽ bắt nhịp lại với mức tăng trưởng tiềm năng của Việt Nam là 6,5% thậm chí là có thể vượt mức này nếu như các giải pháp đưa ra được thực hiện một cách nhanh chóng trong năm 2022.
Đối với thị trường chứng khoán, ông Long cho rằng năm nay sẽ là năm có nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư và có thể là cơ hội sẽ đến tương đối sớm trong giai đoạn đầu năm, còn giữa năm thì chúng ta sẽ có khó khăn một chút, do chính sách tiền tệ ở một số quốc gia chủ chốt trên thế giới họ có xu hướng thắt chặt đi. Tuy nhiên thị trường vẫn sẽ được hỗ trợ đến thời điểm cuối năm. Sẽ có những nhóm ngành được hưởng lợi từ gói hỗ trợ, những doanh nghiệp thuộc nhóm bị ảnh hưởng nhiều bởi Covid, chẳng hạn như hàng không, du lịch hay là công nghệ thông tin, doanh nghiệp liên quan tới cơ sở hạ tầng, xây dựng, nguyên vật liệu.
Tuy nhiên, ông Long cũng lưu ý số lượng cổ phiếu của doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh BĐS trên TTCK Việt Nam đang rất lớn, trong đấy không phải doanh nghiệp nào cũng có kết quả kinh doanh tốt hay có quỹ đất dự trữ tốt và nhà đầu tư cần phải phân tích rất kỹ, chi tiết, từ đấy có những lựa chọn phù hợp.